Phật pháp có xương minh hay không, Ni giới có được coi trọng hay không, một phần tùy thuộc vào chất lượng tu tập và đào tạo thế hệ tương lai. Trong đó, giữ vai trò quan trọng là hoạt động giáo dục ở giai đoạn đầu xuất gia, tức là giáo dục sơ cơ1 theo lối gia giáo “thầy dạy trò”. Đây là giai đoạn xây dựng đạo đức căn bản để người đệ tử có những bước tiến vững chãi trên con đường đã chọn. Việc đào tạo có thành tựu hay không còn tùy thuộc vào sự khéo léo dẫn dắt của người thầy. Đồng thời, điều kiện tu học của đệ tử cũng là yếu tố khá quan trọng. Một người thầy mẫu mực, tận tâm, đầy lòng từ, thương chúng điệu như con; cộng thêm đệ tử hiếu thuận, cung kính, nhiệt tâm, chân thành tu tập, cả hai tác thành, tạo sinh ra người kế thừa rạng ngời tông tổ. Ni giới không thể không lưu tâm đến vấn đề này. Đây là điều kiện quan trọng để khẳng định giá trị của người nữ trong sự nghiệp xây dựng từ bi và trí tuệ ở thế gian.
1. Hiểu đúng nghĩa hai chữ “đạo đức”
1.1. Đạo đức theo ý nghĩa thiền môn
Trong thiền môn, đạo đức bước đầu của người mới xuất gia được đánh giá qua sự cung kính lễ phép, cử chỉ, oai nghi.
Khi vừa vào chùa, được Thầy cho học hai thời công phu, bốn bộ luật tiểu. Ngoài điều kiện này, Bổn sư còn chỉ dạy thêm các vấn đề trong luật không chế định. Ngày nay, những tác động của nhịp sống hiện đại đang xâm nhập vào thiền môn, ảnh hưởng đến tu tập. Người Thầy cần cân nhắc những oai nghi từ cách đi đứng, ngồi, ăn, ngủ, nghỉ…, kể cả việc tiếp xúc, sử dụng công nghệ hiện đại…, mỗi việc đều phải tận tình chỉ dạy.
Ngoài ra, những việc thường nhật như nấu cơm, rửa bát, rửa rau, quét dọn, hương đăng, lau nhà, giặt giũ, xông phơi…cũng phải chỉ bày. Một người xuất gia không thể làm cẩu thả, lấy lệ cho qua việc. Thế nên, làm Thầy, không được để”kẻ hậu bối quên mất cội rễ, lại vì việc tham cầu ăn mặc mà vào chùa, không cày ruộng, không dệt vải, thấy lợi dưỡng là dễ, không thờ vua chúa, cha mẹ, miễn việ”‛2.
1.2. Đạo đức là nền tảng Giới Luật
Khi một người có đạo đức căn bản, đây chính là nền tảng vững chắc để họ tuân thủ Giới Luật một cách trọn vẹn. Một người biết khép mình theo Giới Luật, vâng lời Thầy chỉ dạy, người ấy dễ đi vào ngôi nhà Chánh pháp. Bản thân họ có niềm tin nơi Thầy, đồng thời có niềm tin với Thánh giới. Họ ý thức được giới giúp”đình chỉ các ác và thực hành các thiện”3. Điều này được xác định rõ trong4“‛. Họ được nuôi lớn bằng niềm tin thanh tịnh. Từ đó, niềm tin đối với Tam bảo được xây dựng vững chắc. Đây là điều kiện để đem đến sự an vui trong đời sống Phạm hạnh.
Khi đã sống trong niềm hỷ lạc bởi giới trong sạch thì những cử chỉ, oai nghi, tác phong của vị ấy sẽ toát lên nét đẹp chuẩn mực của một bậc Thanh văn đúng nghĩa.
1.3. Đạo đức được đánh giá qua tác phong oai nghi
Truyện kể rằng, thời Phật còn tại thế, chàng thanh niên Xá-lợi-phất khát khao tìm ra con đường giải thoát. Lúc đó, cậu không tìm được một bậc đạo sư như ý. Một hôm, trên đường vân du tìm thầy học đạo, nhìn thấy Assaji (Mã Thắng), một trong năm đệ tử đầu tiên của Đức Phật, với dáng vẻ thanh thoát, oai nghi đĩnh đạc, sáu căn tĩnh lặng, Xá-lợi-phất lập tức rung động châu thân. Cậu hoàn toàn bị chinh phục bởi dáng vẻ thoát tục, thanh cao ấy5. Điều này cho thấy, giá trị của việc rèn luyện oai nghi thông qua nội tâm đem đến giá trị thật tuyệt vời.
Ngay khi mới vào chùa, tịnh nữ khao khát xuất gia. Điều quan trọng, người Thầy phải nhìn nhận, phát triển hạt giống khát khao ấy, rèn luyện cân nhắc, chỉ bảo để uốn nắn. Sau này lớn lên, dù sống nơi đâu, oai nghi bước đầu này sẽ đi theo suốt cuộc đời của vị Ni trẻ. Đồng thời, tác phong ấy sẽ được truyền tiếp cho thế hệ tương lai.
2. Trách nhiệm của người Thầy khi nhận đệ tử
2.1. Đào tạo có nền tảng
Đào tạo có nền tảng là điều kiện quan trọng để một người học trò có những bước đi vững chãi trên con đường tu tập. Nền tảng ở đây được hiểu là dạy dỗ có thứ lớp, không vượt bậc, không theo cảm hứng. Tránh trường hợp nhận đệ tử cạo tóc rồi đưa vào trường Phật học, giao hết trách nhiệm đào tạo cho nhà trường. Đây là một sai lầm trong việc thiết lập mối quan hệ thầy – trò.
Thông thường, có hai hướng đào tạo. Một là, Thầy truyền dạy cho trò, không thông qua các trường Phật học; tức chỉ dạy những nếp sống căn bản của chốn thiền môn, những điều Giới Luật theo cấp bậc giới phẩm, những luật nghi mà một Tỳ-kheo-ni nên biết, các thời khóa hành trì, phương pháp tu tập theo tông phong… Hai là, Thầy dạy những nếp sống hành trì căn bản của thiền môn. Sau đó, cho học ở trường Phật học các cấp. Cả hai cách đào tạo này, đều phải lấy Giới Luật làm chuẩn mực đạo đức. Mặc dù người xuất gia chú trọng về Từ Bi và Trí Tuệ nhưng hai trụ cột này phải được xây dựng trên chuẩn mực đạo đức và Giới Luật Phật giáo.
2.2. Đề cao “chất”, không đặt nặng “lượng”
Hiện nay, theo thực tế xã hội, mỗi gia đình thường chỉ có một hoặc hai con. Vì vậy, người xuất gia ngày càng ít, dẫn đến ở các chùa, chúng điệu cũng giảm đi. Điều này làm cho thiền môn dần vắng chúng Tăng. Tuy nhiên, không vì thế mà ảnh hưởng đến chất lượng thâu nhận và đào tạo. Chỉ cần người Thầy có tâm, có trách nhiệm thì trong điều kiện nào cũng sẽ nuôi dạy tốt. Một người làm Thầy không cầu về “lượng” mà phải trọng về”chất”. Vì số lượng đông mà chúng ta không dạy dỗ thì làm hư hoại cá nhân ấy và ảnh hưởng đến uy tín Tăng đoàn. Về sau họ sẽ là người phá hoại Phật pháp.
Thời đại nào cũng chú trọng việc giáo dục con cái. Vì rằng, “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá; giáo bất nghiêm, sư chi đọa” (nuôi mà không dạy là lỗi của cha mẹ, dạy mà không nghiêm là lỗi của Thầy). Người thế gian còn thế, huống chi người xuất thế gian? Con đường làm Phật, làm Tổ không dễ dàng chút nào. Nếu chúng ta không giáo dục nghiêm túc, hoặc không đến nơi đến chốn, thì người đệ tử sau này sao có thể làm thầy thiên hạ được? Tiền đồ Phật pháp cũng sẽ bị hủy hoại trong tay họ.
Thế nên, ngay từ đầu, phải xây dựng cho họ nền tảng đạo đức, tư cách làm người tu sĩ. Đồng thời, gợi mở cho họ hoài bão đối với sự nghiệp giải thoát. Có ước mơ và lý tưởng, họ sẽ nỗ lực. Chính đây là chất xúc tác, tạo nhiệt huyết giúp họ vươn lên chân trời cao rộng. Khi có lý tưởng sống rõ ràng, có ước nguyện, chúng ta sẽ nỗ lực để đạt được mục đích ấy. Vì “nhiệm vụ duy nhất của mỗi con người chúng ta là thực hiện con đường mình đã chọn. Khi bạn quyết chí muốn điều gì thì cả vũ trụ sẽ tác động để giúp bạn đạt được điều ấy”6. Vì rằng, ước nguyện ấy không hề hão huyền. Chư Phật, chư Tổ đã đi trước và thành tựu con đường ấy một cách tuyệt vời. Bản thân chúng ta cũng tiếp bước theo con đường ấy, có căn cứ, có phương pháp chứ không hề sống ảo.
Vậy, muốn cho họ hiểu rằng, người xuất gia là phải đặt chân đến phương trời cao rộng, nối dõi dòng giống Thánh7, thì người Thầy cần gợi mở để học trò hiểu giá trị cao quý của người tu là ở chỗ nào, tránh trường hợp bỏ cái huyễn thế tục, vào chùa lại chạy theo danh lợi hư huyễn của người xuất gia.
2.3. Vì lòng từ bi
Khi độ đệ tử, người làm Thầy phải ý thức rõ trách nhiệm và vai trò của mình. Thâu nhận một tịnh nữ với ý nghĩ vì lòng từ bi khi thấy hạt giống Bồ-đề được nảy mầm trong thế gian, người Thầy cần trân trọng nhân duyên lành và quý trọng hạt giống Bồ-đề ấy, không làm cho hạt giống Bồ-đề bị hư hoại. Quý trọng hạt giống không có nghĩa là nuông chiều đệ tử mà phải làm sao để nuôi lớn Thánh chủng trong đệ tử. Có như vậy Phật pháp mới được lưu truyền ở thế gian.
Người Thầy thu nhận đệ tử không phải vì chùa thiếu người, không vì cầu danh văn lợi dưỡng, càng không vì phục vụ cho việc kinh doanh lợi nhuận mà là vì tiền đồ Phật pháp, vì truyền đăng tục diệm.
Vả lại, từ thời Phật, “mọi khả năng về trí tuệ, về thiền định, về Giới Luật… và cả về sự thông minh, khéo léo trong tương quan ứng xử…” thì các Thánh Ni đệ tử”không hề thua nam giới”8. Thời nay, nữ giới cũng có những khả năng và tính chất ấy. Quan trọng là không làm hư hoại, lụi tàn hạt giống Thánh trong họ mà thôi.
2.4. Vì tiền đồ Phật pháp
Được thọ hưởng ân đức của Phật, của các bậc Tổ sư, các vị tiền bối đã hy sinh, duy trì, giữ gìn để Phật pháp còn đến ngày nay; do vậy, chúng ta không thể quên trách nhiệm của một người con Phật. Việc chính yếu là duy trì mạng mạch Phật pháp tồn tại trên thế gian, để đem lại lợi ích cho đời này và đời sau. Mà muốn làm được việc ấy, không gì hơn là đào tạo thế hệ tương lai. Cũng có nghĩa, ngay hiện tại, chúng ta phải có trách nhiệm đào tạo người tiếp nối. Bởi đệ tử chính là sự tiếp nối, là hình bóng của người thầy và cũng chính là sự truyền thừa, kế tục mạng mạch Chánh pháp. Đào tạo có nền tảng, có căn bản, đúng ý nghĩa, vừa có hình thức, vừa có nội dung. Hình thức là có rèn luyện, có học tập, có oai nghi đĩnh đạc. Nội dung là có nội hàm tu tập sâu sắc. Như thế, chúng ta uốn nắn những con người vừa có chất, vừa có lượng, xứng đáng để ghé vai vào gánh trách nhiệm duy trì và hoằng dương Phật pháp ở đời.
3. Điều kiện ngƣời đệ tử cần có
3.1. Có tâm cầu học và tâm tính ổn định
Để đào tạo người, Thầy phải có trách nhiệm, đệ tử phải có tâm, đủ hai điều kiện này thì mới thành tựu. Người nữ tính khí thất thường. Cho nên, muốn truyền trao, phải chọn người có tâm tính ổn định. Trong giới Sa-di-ni dạy:”Dĩ nữ nhân từ thái nan bảo, duyệt tại tu du, phục sinh ác ý”8. Điều này đòi hỏi người Thầy cần phải cẩn trọng trong việc quyết định thu nhận và giáo dục giai đoạn đầu.
3.2. Có tâm hy sinh và chịu khó
Tâm ban sơ của người mới xuất gia luôn dõng mãnh, siêng năng, chịu khó, dễ dàng vượt qua mọi khó khăn. Chúng ta thường nói “nhất niên Phật tại tiền”, chính là ý nghĩa này. Tâm dõng mãnh, hy sinh, chịu khó cũng là một trong những điều kiện rèn luyện đạo đức của người xuất gia. Người xuất gia mà không có đức tính ấy thì khó thành tựu được.
3.3. Thấy được giá trị của con đường xuất gia
Năm đức của Sa-di-ni là điều kiện cần đủ của một người xuất gia. Nhưng quan trọng hơn vẫn là giúp họ thấy được giá trị thực sự và lý tưởng của người xuất gia. Khi thấy được giá trị của con đường đã chọn thì tự bản thân họ sẽ bước đi một cách vững chãi và an vui. Nếu tu tập mà không có sự an vui thì không thể tồn tại trong ngôi nhà Phật pháp. Cho nên, thấy được giá trị và có lý tưởng rõ ràng, đó là lực đẩy giúp họ thăng tiến trên bước đường tu học.
3.4. Có tâm hiếu thuận và cung kính
Muốn biết một người có đạo đức, phẩm hạnh hay không, chỉ cần nhìn vào sự hiếu thuận và cung kính của họ đối với các bậc trưởng bối, đặc biệt là đối với Thầy. Bởi lẽ, lòng biết ơn là điều kiện cần thiết để đánh giá phẩm chất của một con người. Thầy là người có ân nghĩa giáo dục, hướng dẫn bản thân, nếu không có lòng hiếu thuận, sự niệm ân thì không thể giáo dục được. Một người xuất gia mà không có lòng biết ơn thì không xứng đáng để dự vào Tăng chúng. Cho nên, đây là điều kiện không thể thiếu. Người làm thầy, ngay từ giai đoạn đầu rèn luyện đệ tử, không thể không lưu tâm đến vấn đề này.
4. Điều kiện thành tựu tác phong đạo đức đối với Ni giới trẻ
Nói đến tác phong đạo đức là nói đến oai nghi, cử chỉ của một người xuất gia. Nét đẹp của người xuất gia chính là oai nghi đẹp.
4.1. Thân giáo của người thầy
Những gì người Thầy làm, từ hành động, cử chỉ, lời nói, đều phải chuẩn mực. Bởi đó là bài pháp thiết thực nhất, là hình ảnh tuyệt vời để đệ tử học tập và kính ngưỡng. Đệ tử như một bản sao của người Thầy. Giá trị của thân giáo cao hơn khẩu giáo. Thầy là bậc”thị phạm” để cho đệ tử noi theo.
4.2. Sự tận tâm hướng dẫn của người thầy
Một người thầy đúng nghĩa, phải có chất liệu của tình yêu thương trong việc nuôi dưỡng, dạy dỗ chúng điệu. Trong Ưu-bà-tắc giới kinh, phẩm Thâu phục đệ tử, khi Thiện Sanh hỏi Đức Phật về phương pháp thu phục đệ tử, Ngài dạy: “Bồ-tát nên dùng pháp Tứ nhiếp thâu phục, làm cho họ xa rời điều ác, tăng trưởng pháp lành. Một lòng dạy dỗ, xem họ như đứa con một của mình, mà không cầu sự trả ơn, không vì tiếng tăm, không vì lợi dưỡng, cũng không cầu sự vui cho chính mình”.
Người Thầy phải “khéo biết căn tính của đệ tử là lợi căn, trung căn hay độn căn. Dạy đệ tử độn căn làm cho họ sinh lòng tin đối với Phật pháp; đối với kẻ trung căn, dạy dỗ làm cho họ thuần thục đối với kẻ lợi căn, dạy dỗ làm cho họ được giải thoát”. Qua đó cho thấy việc làm Thầy dạy dỗ đệ tử thật không đơn giản như chúng ta nghĩ. Tuy nhiên, cũng cần tránh trường hợp “thủy thái thanh tắc vô ngư”, nước quá trong thì cá không sống được.
Yết-ma yếu chỉ nói: “Làm bậc thầy thâu nhận đệ tử mà không biết giáo dục là một trọng tội”9.
Kinh Thiện Sinh ghi rõ: “Với người Thầy, cần thực hiện những điều cơ bản để săn sóc, dạy bảo đệ tử, như: 1. Tùy thuận pháp mà huấn luyện, 2. Dạy những điều chưa biết, 3. Giải nghĩa rành rõ những điều trò hỏi, 4. Chỉ cho những bạn lành, 5. Dạy hết những điều mình biết không lẫn tiếc”10.
Khi Phật còn tại thế, trí tuệ như Ngài Xá-lợi-phất mà một năm cũng chỉ được phép thâu nhận hai đệ tử. Điều này cho thấy, giáo dục một người đệ tử là trách nhiệm rất nặng nề. Ở thế gian, cha mẹ nuôi dạy một, hai người con đã khó rồi, huống gì nuôi dạy, uốn nắn một người xuất thế, đào tạo người làm thầy trong thiên hạ. Cho nên, sự nghiệp “trồng người” vẫn là điều kiện tiên quyết để xây dựng thế hệ kế thừa dòng giống bậc Thánh. Họ chính là những người Thầy trong tương lai để thay thế người Thầy hôm nay. Vì vậy, sự tận tâm, cẩn trọng của người Thầy chính là xây dựng niềm tin cho đệ tử hướng về lý tưởng giải thoát và duy trì mạng mạch Phật pháp trên thế gian.
4.3. Sự kiên trì tu tập của người đệ tử
Kinh dạy, làm được thân người là khó, sáu căn đầy đủ là khó, được gặp Phật pháp là khó, xuất gia tu học là khó. Người đệ tử đã phát tâm xuất gia, vậy là họ có duyên lành với Phật pháp. Tuy nhiên, không phải ai xuất gia cũng có thể trở thành bậc pháp khí, có đủ tư chất gánh vác trách nhiệm mà Thầy tổ truyền trao. Cho nên, cổ đức dạy,”dụng nhân như dụng mộc”. Có nghĩa là chúng ta tùy căn cơ đệ tử mà hướng dẫn thích hợp, với điều kiện người đệ tử phải biết vâng lời và có niềm tin với Thầy. Ngược lại, người Thầy cũng phải xứng đáng để đệ tử tin tưởng giao phó cuộc đời của họ. Trong Kinh Thiện Sanh, Đức Phật dạy: “Đệ tử cung phụng Sư trưởng có năm việc: 1. Hầu hạ cung cấp điều cần, 2. Kính lễ cúng dường, 3. Tôn trọng quý mến, 4. Thầy có dạy bảo điều gì không trái nghịch, 5. Thầy có dạy bảo điều gì nhớ kỹ không quên. Kẻ làm đệ tử cần phải thờ kính Sư trưởng với năm điều ấy”11. Người đệ tử biết hiếu thuận cũng có nghĩa là người có phẩm chất đạo đức, có thể rèn luyện.
5. Đạo đức Ni giới trẻ đối với sự phát triển của Ni giới
5.1. Giá trị người xuất gia được đánh giá qua phẩm chất đạo đức
Sự thành tựu của người thế tục được đánh giá dựa trên năm dục. Người xuất thế thì ngược lại. Sự thành tựu của người xuất gia được đánh giá qua phẩm hạnh đạo đức. Dù thành tựu về học thức và địa vị nhưng phẩm hạnh đạo đức thiếu kém, thì đó chỉ là thành tựu trên mặt thế gian. Cho nên, người Thầy có trách nhiệm hướng dẫn đệ tử đi đúng theo tiêu chuẩn của người xuất thế. Khi họ vừa vào chùa phát tâm xuất gia, người Thầy phải cho họ biết giá trị của người xuất gia không phải là vì cơm áo mà là sống đời thanh cao, rèn luyện thân tâm, chịu khó tu tập để đưa đến an tịnh nội tâm, thành tựu phẩm chất đạo đức chuẩn mực, xứng đáng dự vào hàng chúng Trung Tôn. Thế nên, người đệ tử có thành tựu sự nghiệp tu học hay không còn tùy thuộc rất lớn từ người Thầy.
5.2. Đạo đức là nền tảng cho sự phát triển Ni giới
Một gia đình hưng thịnh khi con cái được giáo dục tốt, biết hiếu thuận, kính trên nhường dưới. Đất nước thịnh vượng khi vua tôi hòa thuận, kính trọng lẫn nhau. Ngôi nhà Phật pháp muốn hưng thịnh cửu trụ ở thế gian thì thế hệ trẻ phải được giáo dục, rèn luyện tốt. Vậy thì hôm nay, chúng ta ngồi đây, với vai trò là những nhà giáo dục, không thể bỏ qua cơ hội tạo nên một thế hệ tương lai tốt đẹp. Muốn xây dựng thành tựu, đòi hỏi mỗi cá nhân phải trau dồi tự thân, từ hình thức cho đến nội dung. Nền tảng để xây dựng thế hệ tương lai chính là đạo đức. Cụ thể hơn, đó là Giới Luật, cộng với sự gia tâm tu tập của bản thân. Người hướng dẫn phải giúp kẻ học Phật giai đoạn sơ cơ chế tác được năng lượng bình an của tự thân, sự nhiệt huyết trên con đường mình đã chọn. Đào tạo ra những con người siêng tu, thật học, có tâm hy sinh, biết nghĩ đến tiền đồ Phật pháp thì đó là điều kiện để hạt giống Thánh nảy mầm ở thế gian.
Kết luận
Xây dựng thế hệ tương lai là điều mà hai mươi lăm thế kỷ qua chư vị Tổ sư đã làm. Hôm nay, chúng ta là người kế thừa, cũng không ngoài nhiệm vụ ấy. Muốn đào tạo người, trước hết, phải tự rèn luyện chính mình. Mỗi cá nhân hoàn thiện tự thân chính là| điều kiện để đoàn thể tốt đẹp.
Trên đây chúng ta đã bàn qua về điều kiện xây dựng thế hệ tương lai trong giai đoạn sơ cơ, còn gọi là giai đoạn gia giáo, thầy dạy trò. Chính đây là điều kiện cần thiết và là nền tảng cơ bản để người tu tập có những bước tiến tiếp theo vững chãi. Ni giới có tầm ảnh hưởng hay không, tùy thuộc vào một phần giáo dục trong giai đoạn này. Người đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn này chính là người thầy Bổn sư. Đã là Thầy thì phải tận tâm, tận lực vì một ngôi nhà Phật pháp được xương minh, đem lại lợi lạc cho quần sanh.
SC. TS. Nguyên Thanh
- Giai đoạn tập sự xuất gia khi vừa mới vào chùa.
- Linh Sơn Pháp Bảo Đại tạng kinh, tập 178, Bộ Chư Tông 18: “Truy Môn Cảnh Huấn”, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, tr.779.
- HT. Thích Thái Hòa (2017), Niềm tin bất hoại với Thánh giới, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.22.
- 《阿毘達磨俱舍論》卷14, 大正藏. T29, no. 1558, p.72b10-11. Nguyên văn: 能遮能滅惡戒相續故名律儀.
- H.W. Schumann (2000), Đức Phật lịch sử, Trần Phương Lan dịch, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.224.
- Paulo Coelho (2019), Nhà giả kim, Lê Chu Cầu dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.40.
- Linh Hựu Thiền sư, Cảnh sách Văn.
- Minh Đức Triều Tâm Ảnh (2012), Con gái đức Phật, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.6
- Sa-di-ni Luật nghi yếu lược, Thượng thiên Giới Luật môn.
- HT. Trí Thủ (Giảng thuật, 2006), Yết ma yếu chỉ, Ban Tu thư Phật học Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức, tr.82.
- 《長阿含經》卷11善生經第十二, 大正藏, T01, no.1, p.71c22-26.
- Sđd, p.71c17-21.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Minh Đức Triều Tâm Ảnh (2012), Con gái đức Phật, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. HT. Thích Thái Hòa (2017), Niềm tin bất hoại với Thánh giới, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
3. Linh Hựu Thiền sư, Cảnh sách Văn.
4. Linh Sơn Pháp Bảo Đại tạng kinh, tập 178, Bộ Chư Tông 18: ‚Truy Môn Cảnh Huấn‛, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản.
5. Paulo Coelho (2019), Nhà giả kim, Lê Chu Cầu dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội.
6. Sa-di-ni Luật nghi yếu lược, Thượng thiên Giới Luật môn.
7. H. W. Schumann (2000), Đức Phật lịch sử, Trần Phương Lan dịch, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. HT. Trí Thủ (Giảng thuật, 2006), Yết ma yếu chỉ, Ban Tu thư Phật học Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức.
9. 長阿含經》卷11善生經第十二, 大正藏, T01, no.1, p.71c22-26
10. 阿毘達磨俱舍論》卷14, 大正藏. T29, no. 1558, p.72b10-11.

















































