3). Tên gọi “Trà Đạo” xuất phát từ Thiền tông (“茶道”之名出于禅门)
“Bách Trượng Thanh Quy” được biên soạn chế định vào thời Trung Đường (766-835), dưới sự chủ trì của Thiền sư Hoài Hải (怀海禅师khoảng 720-814) chùa Bách Trượng, núi Bách Trượng, tỉnh Giang Tây. Sư đã đưa ra những quy định tỉ mỉ về các loại nghi thức uống trà trong Phật giáo, gọi chung là “Trà Đạo”. Kể từ đó, nghi lễ liên quan đến trà trong các tự viện ngày càng trở nên chuẩn mực, và việc uống trà nghiễm nhiên đã trở thành một loại công phu Thiền tu nghiêm ngặt. Mối duyên phận giữa Trà và Thiền ngày càng sâu sắc hơn.
Lục Vũ đã nói trong “Trà Kinh”: “Trà để dùng, để uống, vị hàn, thích hợp nhất cho những người tinh tế kiệm đức”. Ý nói phẩm tính của trà không phải là phồn vinh nhiệt náo, có dung mạo mỹ lệ, có địa vị sang quý, mà là hàn và lạnh, nó phù hợp nhất với những người lập chí tu đức, thiên tính mộc mạc giản dị, phẩm hạnh trong sáng, tư cách tao nhã. Những hành giả tu thiền lìa bỏ dục vọng thế tục, xa rời sự phồn hoa của thế gian, chuyên tâm tham Thiền ngộ đạo, chắc chắn họ là những người “kiệm đức tu hành tinh tấn” như vậy. Trà là tinh thần của thiên nhiên. Uống trà trong lúc tham thiền, đem thân mình dung hợp cùng một thể với núi, sông, thiên nhiên và vũ trụ. Trong trà, người ta có thể tìm được cảm ngộ cuộc sống và giải tỏa tinh thần. Đây là một loại thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày của tư tưởng Thiền tông. Dùng trà để ngộ Thiền dĩ nhiên đã trở thành một phương thức tu hành của Thiền tông.
II. Lấy Trà ngộ Thiền (以茶悟禅)
Người tu Thiền dùng trà để ngộ Thiền là như thế nào? Chúng ta hãy lấy một số công án Thiền tông làm ví dụ để giải thích. Trước tiên, hãy nói về công án Thiền là gì. Thiền tông chủ trương không lập văn tự, tĩnh tâm tự ngộ. Cho nên, khi các Thiền sư truyền trao Thiền pháp cho đệ tử, điều mà họ sử dụng là phương pháp giảng dạy theo lối suy nghiệm, dùng rất ít ngôn ngữ, hành động để biểu đạt tư tưởng thiền và chân lý thiền, khiến cho người học tự mình tham ngộ. Khái quát trong một câu, công án Thiền tông chính là chỉ (指), Thiền sư hướng dẫn (指点chỉ điểm) người học bằng cách đưa ra những gợi ý trong ngôn ngữ và động tác.
“Uống Trà Đi” là một công án Thiền tông khai đạo cho Thiền sinh, lấy cảm hứng từ Thiền sư Tùng Thẩm1 Viện Quan Âm ở Triệu Châu (nay là huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc) đời Đường. Theo “Triệu Châu Quan Âm Viện Tùng Thẩm Thiền Sư” (赵州观音院从谂禅师) ghi chép trong “Cảnh Đức Truyền Đăng Lục” (景德传灯录) quyển 10: Thiền sư Triệu Châu hỏi vị Tăng mới đến:
– Ngươi đã từng đến đây chưa?
– Thưa, đã từng đến.
– Uống trà đi.
Triệu Châu lại hỏi vị Tăng khác cũng giống như trên:
– Đã từng đến đây chưa?
– Thưa, chưa từng đến
– Uống trà đi.
Sau đó, Viện chủ hỏi:
– Vì sao Tăng mới đến cũng nói uống trà đi, mà Tăng chưa từng đến cũng nói uống trà đi?
Thiền sư gọi:
– Viện chủ!
– Dạ
– Uống trà đi.”
Nghĩa là Triệu Châu hỏi một vị Tăng mới đến Viện Quan Âm:
– Trước đây ông đã từng đến đây rồi phải không?
– Thưa, con đã từng đến.
– Uống trà đi.
Triệu Châu lại hỏi một vị Tăng khác câu hỏi tương tự, trả lời:
– Thưa, con chưa từng đến đây.
– Uống trà đi.
Viện chủ Viện Quan Âm cảm thấy nghi hoặc không thể lý giải hỏi:
– Người đã từng đến, Thầy bảo họ uống trà, người chưa từng đến, Thầy cũng bảo họ uống trà. Điều này có ý nghĩa gì?
Triệu Châu hét to:
– Viện chủ!
Viện nhanh chóng trả lời: Có!
– Ông cũng uống trà đi. Triệu Châu nói:
Ba lần bảo “Uống trà đi ” của Triệu Châu, đây là cơ phong mà hơn một nghìn năm nay đã được các học nhân đời sau tham cứu, cuối cùng nó có ý nghĩa gì? Triệu Phác Sơ (赵朴初1907-2000), cố Hội Trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, từng sáng tác đoạn công án này trong “Ngâm Trà Thi” (吟茶诗):
Phiên âm:
Thất oản thọ chí vị
Nhất hồ đắc chân thú
Không trì bách thiên kệ
Bất như ngật trà khứ
Tạm dịch:
Bảy tách thưởng hương trà
Một bình thật thú vị
Nắm rỗng trăm nghìn kệ,
Không bằng “Uống Trà Đi”.
Nguyên văn:
七碗受之味
一壶得真趣
空持百千偈
不如吃茶去
“Bảy bát sẽ cho ta hương vị, một bình sẽ mang lại cho ta niềm vui chân thật. Nắm rỗng không hàng trăm hàng nghìn bài kệ, không bằng uống trà đi.”
Có nghĩa là nếu bạn uống bảy bát trà lớn một cách thoải mái, bạn chắc chắn sẽ cảm nhận được hương vị vô tận của trà; nếu bạn uống một bình trà nhỏ, tương tự như vậy, bạn cũng có thể lãnh hội được sự thú vị chân thực của trà. Trong trà tự có Thiền ý, thay vì tay cầm kệ ngữ, Phật kinh khổ tâm niệm tụng, không bằng đặt nó xuống, uống trà đi. Trong quá trình uống trà, bạn có thể thưởng thức hương vị của Thiền trà và tham ngộ được chân đế của Thiền học.
Trong bài thơ của Triệu Phác Sơ có sử dụng đến một điển cố “Thất Oản” (七碗). Điển cố này xuất phát từ “Thất Oản Trà Thi” (七碗茶诗) của Lư Đồng2, thi nhân đời Đường. Nguyên văn bài thơ như sau:
Phiên âm:
Nhất oản hầu vẫn nhuận
Nhị oản phá cô muộn
Tam oản sưu khô tràng
Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển
Tứ oản phát khinh hãn
Bình sanh bất bình sự
Tận hương mao khổng tán
Ngũ oản cơ cốt thanh
Lục oản thông tiên linh
Thất oản ngật bất đắc dã
Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sanh
Tạm dịch:
Tách trà vừa qua môi
Thắm nhuận nơi cổ họng
Tách thứ hai uống rồi
Phá tan miền cô độc
Phiền muộn đã đi chơi
Thứ ba lòng khô cạn
Chỉ còn văn tự thôi
Năm nghìn chữ hiển hiện
Đến tách trà thứ tư
Toát mồ hôi nhè nhẹ
Những rối rắm sự đời
Theo chân lông tan loãng
Tách thứ năm rời môi
Xương cốt đều thanh sạch
Thứ sáu thông thần tiên
Không thể nào uống tiếp
Tách thứ bảy nữa rồi
Dường như có đôi cánh
Theo gió mát dạo chơi.
Nguyên văn:
一碗喉吻润
二碗破孤闷
三碗搜枯肠
惟有文字五千卷
四碗发轻汗
平生不平事
尽向毛孔散。
五碗肌骨清。
六碗通仙灵。
七碗吃不得也,唯觉两腋习习清风生。
Ý nói: “Cốc trà đầu tiên đi qua môi thắm nhuận cổ họng, cốc thứ hai phá tan cô đơn phiền muộn, cốc thứ ba vắt óc suy nghĩ lao tâm khổ tứ đến nỗi khô hết dạ dày gan ruột, chỉ còn lại năm nghìn quyển văn tự. Cốc trà thứ tư bắt đầu đổ mồ hôi nhẹ, và tất cả những bất công gặp phải trong cuộc đời, đều phát tán từ lỗ chân lông ra đến bên ngoài. Cốc thứ năm giúp củng cố xương cốt và thanh lọc cơ thể. Cốc thứ sáu dường như được kết nối với các Thần tiên. Cốc thứ bảy đã không uống được nữa rồi, chỉ cảm thấy như có làn gió nhẹ phất qua hai bên nách.
Bài thơ này mô tả cảnh giới tuyệt vời, mang lại cho con người thưởng thức cách uống tân trà (新茶: Là loại trà được hái đầu tiên và được chế biến từ những lá tươi vào mùa xuân năm đó): một tách trà có thể làm cho nhà thơ nhuận cổ họng, giải tỏa phiền muộn, mài mực múa bút vẽ tranh, viết thư pháp… Đợi đến khi uống đến bát thứ bảy, dường như có đôi cánh mọc ra từ hai bên nách có thể cưỡi gió, bay đến Bồng Lai tiên cảnh như huyễn như mộng. Thơ của Lư Đồng miêu tả vẻ đẹp của trà cảnh như thế đó!
Nội Mông Cổ – Thanh Như (dịch) {ĐSHĐ-130}
- Thiền sư Triệu Châu (赵州禅师778-897): Đại sư Thiền tông, họ Hác (郝) pháp hiệu Tùng Thẩm (从谂), quê Lâm Truy, Sơn Đông, sinh ở Tào Châu (nay thuộc khu vực Mẫu Đơn Viên, Tào Châu, Hà Trạch, Sơn Đông). Sư xuất gia lúc còn trẻ, trước khi thọ giới, Sư từng tham học với Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện, sau đó đến Tung Sơn thọ giới, rồi trở về làm môn hạ y chỉ Thiền Sư Nam Tuyền và trụ nơi đây hai mươi năm. Sư từng thăm viếng các vị Thiền sư ở nhiều nơi như Hoàng Bá, Bảo Thọ, Diêm Quan, Giáp Sơn, Ngũ Đài… Vào năm Đại Trung thứ mười một đời Đường (857), Thiền sư Tùng Thẩm hành khước đến Triệu Châu, với sự chứng ngộ uyên thâm, niên cao đức trọng, Sư được mọi người cung thỉnh trú tích tại Quan Âm Viện, thành phố Triệu Châu, lúc này Sư đã tám mươi tuổi. Trong bốn mươi năm qua, Thiền phong được truyền bá rộng rãi, Sư được cả tăng nhân và cư sĩ ngưỡng mộ, và là bậc mô phạm chốn Tòng Lâm, được người đời xưng tụng là “Triệu Châu Cổ Phật”. Sư thị tịch năm thứ tư của triều đại Càn Ninh, đại thọ 120 tuổi và được truy tặng “Chân Tế Đại Sư”.
- Lư Đồng (卢仝795-835): Thi nhân đời Đường, Hán tộc, hậu duệ trực hệ của Lư Chiếu Lân – một trong tứ kiệt thời Sơ Đường (Vương Bột, Lạc Tân Vương, Dương Quýnh). Sinh tại thị trấn Võ Sơn, thành phố Tề Nguyên, tỉnh Hà Nam (nay là làng Tư Lễ). Tuổi trẻ ông ẩn cư ở núi Thiếu Thất, tự hiệu Ngọc Xuyên Tử, học hành chăm chỉ, thông thạo kinh sử, giỏi thi thơ, tinh thông văn chương. Người đời gọi ông là “Trà Tiên”. Tính cách “thanh lịch mà đơn giản hơi có chút kỳ quặc, sống cô độc không tuân theo những phong tục tập quán, kiến giải phi phàm”. Vào tháng 11 năm 835, ông qua đời trong sự cố Cam Lộ Chi Biến (năm thứ 9 Đường Thái Hòa 835).


















































