Tuy nhiên, Kramer tin rằng các bà mẹ có những thuận lợi nhất định đối với hình thức tu viện, đó là “Các bà mẹ có một đường truyền tĩnh mạch trung tâm từ ngoại biên (PICC line) tới trái tim với tình yêu vô điều kiện nên họ cần thực hành để thực hiện tình thương đối với tất cả chúng sinh với tấm lòng Bồ tát nguyện. Cuộc sống của họ được gắn với những công việc không tư lợi và họ được thử thách để buông xả mọi sự ràng buộc mạnh mẽ nhất của trái tim người mẹ với những đứa con”.1 Tương tự như vậy, Franz Metcalf và Vanessa Sasson viết rằng: “Cố gắng cắt đứt các ràng buộc của thế gian là mục đích cốt lõi của Phật giáo, nhưng mọi Phật tử không cần thiết phải đề ra mục tiêu này. Các mối quan hệ gia đình luôn ràng buộc các cộng đồng Phật giáo với nhau, bất chấp sự không lâu bền của những gia đình, những mối quan hệ như vậy dễ dàng dẫn đến khổ đau hướng đến mối quan hệ cuộc sống gia đình là việc cần thiết được thực hành và trở thành trọng tâm. Việc hướng trọng tâm vào cuộc sống gia đình khiến cho những mối quan hệ và sự thực hành này trở thành điểm trọng tâm.2
Nghiên cứu của tôi kết hợp lý thuyết về nữ quyền, nhân chủng học xã hội và phân tích một số tài liệu Phật giáo. Bắt đầu với bối cảnh văn hóa, chính trị và tôn giáo đối với địa vị người mẹ trong Phật giáo hiện nay. Mục đích của nghiên cứu nhằm làm rõ việc áp dụng triết lý, giáo lý và thực hành Phật giáo đối với việc làm mẹ. Mục tiêu hướng tới là để lắng nghe, diễn giải và đưa ra những câu chuyện của phụ nữ về sự chuyển hóa của họ với đạo Phật và đối với bổn phận làm mẹ trong đạo Phật. Thông qua đó, nghiên cứu này góp phần vào những kiến thức và tranh luận hiện tại về đời sống của phụ nữ phương Tây hiện đại và Phật giáo. Tôi đã phỏng vấn hơn 20 phụ nữ là những người mẹ và trong một số trường hợp cũng là bà ngoại, tất cả những người này đều coi mình là Phật tử và đã không được sinh trưởng trong một gia đình Phật giáo, và một số là tu nữ Phật giáo ở miền Tây Tây Tạng.
Nghiên cứu của tôi đã được tiến hành thông qua phân tích thuật chuyện và theo chuyên đề dựa trên một phương pháp luận về nữ quyền. Điều tra theo chủ đề và Điều tra theo sự quan tâm được sử dụng làm công cụ phương pháp luận để xem xét những câu chuyện của phụ nữ và giúp phân tích theo chủ đề. Valerie Malhotra Bentz và Jeremy Shapiro mô tả phương pháp Điều tra theo sự quan tâm trong nghiên cứu xã hội bằng việc kết hợp “khái niệm chính niệm của Phật giáo với hiện tượng học, lý thuyết phê bình và thông diễn học, trong đó người điều tra được đặt ở vị trí trung tâm”.3 Điều tra sự quan tâm được dựa trên ba giả định triết học. Những giả định này là tầm quan trọng của chính niệm, hiện diện xuyên suốt trong tiến trình điều tra. Như vậy, Điều tra sự quan tâm giúp phát triển cả thuyết phản thân và bị động trong nghiên cứu.
Khi phỏng vấn từng phụ nữ trong nghiên cứu này, một số câu hỏi định hướng được sử dụng. Tuy nhiên, các cuộc phỏng vấn là bán cấu trúc, cho phép cả người nói và người nghe theo dõi hướng đi của những câu chuyện phụ nữ. Vấn đề đầu tiên là hỏi những người tham gia xem họ coi đạo Phật là một tôn giáo, một triết lý hay cả hai, hoặc là một cái gì đó khác. Trong khi nhiều học giả xem đạo Phật là một tôn giáo, điều này có nghĩa là sự khác biệt tuyệt đối với tôn giáo khác vì không có một vị Thần duy nhất tạo ra và sau đó xác định số phận của những người tin tưởng.4 Do đó, Alice Katie Terrell viết: “Đạo Phật được tin và được hiểu rõ nhất như một triết học hơn là một hệ thống tôn giáo vì nó không có một vị thần nào cả”.5
Ngụ ý này phù hợp với những gì mà đa số người tham gia bày tỏ, phần lớn họ nhìn nhận đạo Phật là một triết học hay “khoa học của trí tuệ” có đối lập với một tôn giáo. Một khía cạnh đánh giá là liệu quan điểm này có lợi hay bất lợi trong việc giảng dạy trẻ em những lợi ích về lối sống của một Phật tử? Helen Waterhouse tin rằng, “các tôn giáo, bao gồm cả Phật giáo, có những giải thích nội tại đối với quá trình hoạt động trẻ em là được xã hội hóa hướng vào quan điểm tôn giáo của cha mẹ chúng và những người liên quan gần gũi khác. Những giải thích như vậy có thể dựa trên quan điểm thần học hoặc những quan điểm về vũ trụ học và nghiên cứu về sự cứu rỗi.6
Trong khi những người tham gia phỏng vấn không cảm thấy đạo Phật là một tôn giáo, họ cho rằng việc gieo trồng một số “hạt giống” hay niềm tin vào Phật giáo trong tâm trí, suy nghĩ và hành động của những đứa trẻ là quan trọng, điều đó thích hợp cho những đứa trẻ có cơ hội để học tập về triết lý của đạo Phật như một phần không thể thiếu của sự trưởng thành. Tương tự như vậy, họ thấy rằng, sự quen thuộc của trẻ nhỏ với các biểu tượng của đạo Phật và sự hiểu biết về những biểu tượng, tượng trưng là một phần của vốn văn vóa (culture capital), điều mà các bà mẹ muốn mang đến cho những đứa trẻ. Mục đích của nó là để cho trẻ em biết đến đạo Phật thông qua những cách thức có ảnh hưởng lâu dài đến suy nghĩ của chúng, cũng như sự liên hệ với thế giới, ngay cả khi những đứa trẻ không hoàn toàn chấp nhận những quan niệm của Phật giáo một cách tự nguyện. Lama Zopa Rinpoche khẳng định rằng: “Khi các Phật tử là cha mẹ, bạn có thể làm rất nhiều điều giúp những đứa trẻ của mình, sẽ là một điều đáng tiếc, cực kỳ buồn và rất lạ nếu bạn không dạy cho đứa trẻ của bạn những gì bạn có niềm tin và những gì bạn đã phát hiện là hữu ích cho cuộc sống của chính bạn”.7
Tu tập tôn giáo hoặc tinh thần, bao gồm cả tu tập Phật giáo, là một yếu tố gắn kết trong một gia đình hoặc nó có thể là sự đối lập, là một thách thức cụ thể đối với những gia đình mà bố mẹ tu tập tin tưởng, nhưng những người khác không tìm thấy được một vai trò cân bằng trong việc tu tập tôn giáo hoặc tinh thần trong gia đình.8 Trong trường hợp này đối với đa số người tham gia phỏng vấn, những cảm giác phiền muộn do sự căng thẳng này không được đề cập mạnh mẽ trong các cuộc phỏng vấn. Trong một số trường hợp, đạo Phật không phải là một chủ đề thảo luận giữa các chủ thể tham gia phỏng vấn, nhưng ở một mức độ lớn thì mối quan hệ được dựa trên sự hiểu biết và một sự chấp nhận những khác biệt.
Trong các cuộc phỏng vấn, điều này trở nên phổ biến thông qua cách thức mà phụ nữ phương Tây tu tập theo đạo Phật có thể khác với cách mà các Phật tử châu Á thực hành. Các bà mẹ phương Tây đã thừa nhận rằng đạo Phật có những việc cũng giống như các công việc gia đình, do đó có thể không có thời gian để tập trung vào các nghiên cứu và thực hành tốn nhiều thời gian hơn. Những hoạt động này thể hiện những thách thức khác nhau giữa nữ cư sĩ và nữ tu sĩ. Theo truyền thống châu Á, hầu hết các hoạt động tu tập được thực hiện bởi nam giới, còn phụ nữ tu tập một cách nghiêm ngặt ở đời sống tại gia và không có con.9
Một vấn đề khác là vai trò của phụ nữ và những người mẹ trong các cơ sở Phật giáo, trong lịch sử các nước châu Á, phụ nữ đã bị loại ra khỏi nhiều cơ sở như các tu viện và đền thờ,10 điều này cho đến nay vẫn thường xảy ra. Gần đây, Metcalf và Sasson đã lưu ý rằng mối quan hệ giữa các cơ quan tôn giáo và các mối quan hệ gia đình có thể là một sự cạnh tranh. Sự căng thẳng này đã được bày tỏ bởi một số người tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu, họ đề cập đến cuộc đối mặt đấu tranh của những nữ Phật tử có con hoặc con nhỏ. Một số người thuật lại giai đoạn của việc bị đuổi khỏi các trung tâm và lớp thuyết giảng đạo Phật ở phương Tây, bởi trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh thường không được chào đón bởi các nhóm Phật tử phương Tây. Trong một số trường hợp, việc đuổi khỏi đó rất rõ ràng, các trung tâm thể hiện rõ nét những trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh không được tham dự các lớp thuyết giảng và buổi học chính quy. Một số trung tâm đã thành lập các nhóm định hướng gia đình, như các câu lạc bộ về Phật pháp.
Một vấn đề nữa được nêu ra là sự thiếu vắng của việc truyền tải kiến thức về đa tôn giáo trong hệ thống trường học của Úc, cụ thể là ở Queensland, nơi mà một phần lớn của nghiên cứu được tập trung. Các trường công lập có môn học giáo dục tôn giáo, nhưng nó chủ yếu hoặc đôi khi là Kitô giáo và thường được thực hiện bởi các tổ chức Kitô hữu. Ngoài ra, hệ thống trường tư nhân bao gồm phần lớn là các trường do các tổ chức Kitô hữu tài trợ. Kết quả, trẻ em trong độ tuổi đi học không phải là đối tượng tiếp xúc nhiều với các tôn giáo, do đó không hiểu và không có cách hiểu hoặc đánh giá về những điểm khác biệt và tương đồng giữa các tôn giáo. Do đó, chúng ta cần xem xét sự cần thiết về phương pháp giáo dục đa tôn giáo để khuyến khích sự hiểu biết, tôn trọng và thái độ không phán xét của trẻ em.
Một khía cạnh khác của nghiên cứu là việc biến đổi qua các thế hệ, liên quan đến việc truyền bá niềm tin và thực hành Phật giáo cho thế hệ trẻ. Các bà mẹ chiếm một tỉ lệ lớn trong dân số, các cơ sở và lớp thuyết giảng Phật giáo cần được tiếp cận với họ nhiều hơn. Những giáo lý cốt lõi của Phật giáo rất phù hợp với những bà mẹ đang nuôi dưỡng những thế hệ kế tiếp của việc tu tập đạo Phật. Các bà mẹ cũng có khả năng đạt được giác ngộ giống như bất cứ ai khác và xứng đáng được hỗ trợ hướng đi và chú ý nhiều hơn. Kramer khẳng định rằng, đạo Phật không được thiết lập vững chắc trong một nền văn hóa cho đến khi nó được thiết lập vững chắc trong đời sống gia đình của các gia đình.
Rita Gross viết rằng: “Nỗ lực kết hợp nuôi dạy trẻ với những nhu cầu thực hành và nghiên cứu chuyên sâu là một thực nghiệm chủ yếu của Phật tử. Vào đầu thế kỷ XXI, có thể thấy thực nghiệm thực hiện tốt như thế nào và liệu nó có thể duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác hay không”.11 Thật vậy, một số nhà bình luận Phật giáo tuyên bố rằng cần có các mô hình cho sự tham gia bình đẳng hơn của phụ nữ là trách nhiệm (Karmic task) đặc biệt của Phật giáo phương Tây. Tiếp tục nỗ lực nghiên cứu này là bước đi hướng đến giải quyết sự nghiệp thúc đẩy sự tham gia bình đẳng. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của phụ nữ và các bà mẹ như là trung tâm của các tư tưởng Phật giáo và tìm cách mở rộng quan điểm giác ngộ về vai trò của họ.
Meg Adam
Minh Anh (Việt dịch) {ĐSHĐ-058}
Chú thích
1. Jacqueline Kramer, From the Hearth (Từ Trái tim), Nữ Phật tử Mỹ: Sự khuyến khích hòa nhập đạo Phật ở Mỹ, 4 (2014), tr.2.
2. Franz Metcalf and Vaness R. Sasson, Tensions Between Families and Religious Institutions (Tình trạng căng thẳng giữ các gia đình và cơ sở Tôn giáo), Tạp chí Phật giáo Toàn cầu, số 16 (2015), tr.102.
3. Valerie Malhotra Bentz và Jeremy J. Shapiro, Mindful Inquiry in Social Research (Điều tra sự quan tâm), NXB. Sage Publications, Thousand Oaks, California 1998, tr.171.
4. Rebecca Novick, Fundamentals of Tibetan Buddhism (Những nền tảng cơ bản của Phật giáo Tây Tạng), NXB. Crossing Press, New York, 1999, iii.
5. Terrell, Thai Buddhism and Women (Phụ nữ và Phật giáo Thái Lan), tr.16.
6. Helen Waterhouse, Soka Gakkai Families in the UK: Observations from a Fieldwork Study (Những giáo phái Soka Gakkai ở Vương quốc Anh: Những quan sát từ Nghiên cứu điền dã), Tạp chí Phật giáo Toàn cầu, 16 (2015), tr.187.
7. Lama Zopa Rinpoche, Planned Parenting: Making Your Children’s Lives Meaningful (Lập kế hoạch nuôi dạy con: làm cho cuộc sống của con bạn ý nghĩa), Joan Nicell (Chủ biên), 2014, tr.6. http://www.lamayeshe.com/article/planned-parenting-making-your-childrens-lives-meaningful
8. Waterhouse, Soka Gakkai Families (Những giáo phái Soka Gakkai), tr.185.
9. Rita M. Gross, How American Women are Changing Buddhism (Phụ nữ Hoa Kỳ đang thay đổi đạo Phật như thế nào), Shambhala Sun, July 2005.
10. Toshie Kurihara, The 21st Century is a Century of Women (Thế kỷ XXI là thế kỷ của Phụ nữ), Tạp chí Nghiên cứu phương Đông, số 15 (2005), tr.66-77.
11. Gross, How American Women are Changing Buddhism (Phụ nữ Hoa Kỳ đang thay đổi đạo Phật như thế nào), tr.5.


















































