Tóm tắt
Từ thực tiễn phát triển của Ni giới Việt Nam, bài viết lùi về thời điểm phong trào chấn hưng Phật giáo trong gần hai thập niên đầu thế kỷ XX, thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt đối với Phật giáo Việt Nam để tìm hiểu về địa vị của Ni giới. Trên cơ sở khai thác các nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I (Việt Nam), báo chí Phật giáo và hồi ký bài viết làm sáng tỏ địa vị của phụ nữ Việt Nam thời Pháp thuộc cũng như những nhân tố tích cực của chế độ thuộc địa tác động đến sự thay đổi nhận thức của phụ nữ; tiếp đó phân tích sự khác biệt về thực trạng Ni chúng ở ba vùng. Cuối cùng bài viết khám phá sự vươn lên của Ni giới trong phong trào chấn hưng và sự xuất hiện của các Ni giới canh tân. Chính họ đã định hình và kiến tạo nên đường hướng để Ni chúng các giai đoạn sau tiếp tục thực hiện và trở thành một lực lượng quan trọng trong Tăng đoàn1-2.
Mở đầu
1. Mở đầu
Khác với các nước láng giềng thuộc khu vực Đông Nam Á theo Phật giáo Nam tông, vốn không có Ni giới, Phật giáo Việt Nam không những có chư Ni mà số lượng chư Ni còn đông hơn chư Tăng3, trong đó có nhiều vị có học vị cao và ngày càng tích cực trong mọi lĩnh vực hoạt động4. Phật giáo Việt Nam gồm Bắc tông hay Nam tông (Nam tông gồm Nam tông Kinh và Nam tông Khmer). Ngoài ra, từ giữa thế kỷ XX xuất hiện thêm hệ phái Khất sĩ. Theo truyền thống Bắc tông và Khất sĩ, một vị nữ tu cần trải qua các giai đoạn sau: thời gian tập sự (2 năm, thời gian làm cư sĩ tập sự đã được quy y và thọ 5 giới); Xuất gia đủ 2 năm được thọ Sa di ni (gồm 10 giới); đủ 2 năm kế tiếp thọ Thức xoa ma na ni (10 giới và 6 học pháp); đủ 2 năm tiếp tục thọ Tỳ kheo ni (348 giới). Trong khi đó truyền thống Nam tông Khmer không có Ni giới. Còn Nam tông Kinh mặc dù chấp nhận người nữ xuất gia nhưng họ mới chỉ thọ 8 giới và hiện nay Việt Nam vẫn chưa tổ chức Đại Giới đàn cho nữ tu. Như vậy, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, Ni giới bao gồm những người nữ xuất gia và thọ ít nhất từ 10 giới trở lên theo truyền thống Bắc tông và Khất sĩ.
Năm 2009 có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Ni giới Việt Nam. Đó là thời điểm Ni giới được phép tái thành lập tổ chức của riêng mình, Phân ban Đặc trách Ni giới, thuộc Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập. Đó là một đoàn thể có cơ cấu tổ chức, nội quy hoạt động rõ ràng5 thống nhất lãnh đạo, quản lý Ni giới trong cả nước. Nói tái thành lập, vì Phân ban đặc trách Ni giới không phải là tổ chức đầu tiên của Ni giới. Với truyền thống lâu dài, Ni giới Bắc tông đã thành lập được tổ chức đầu tiên ở miền Nam vào năm 1956 với tên gọi Ni bộ Nam Việt. Đây là một sự kiện rất đáng suy ngẫm trong lịch sử Phật giáo Bắc tông ở Việt Nam. Bởi lẽ, miền Bắc vốn được coi là cái nôi của Ni giới Bắc tông. Chính thực tế này đã khiến chúng tôi đặt câu hỏi: Tại sao? Và thôi thúc chúng tôi lùi về thời điểm chấn hưng Phật giáo để tìm câu trả lời.
Nếu như các công trình cơ bản thống nhất ở thời điểm mở đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, vào những năm 20 của thế kỷ XX6 thì về thời điểm kết thúc, lại có nhiều ý kiến khác nhau7. Tuy vậy, trong phạm vi bài viết này, thời gian được đề cập là từ năm 1931 đến năm 1945, bởi các lý do sau: thứ nhất, phong trào chấn hưng được nghiên cứu với trụ cột là các hội Phật học/Phật giáo, cụ thể là Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học (1931, Nam kỳ), Lưỡng Xuyên Phật học hội (1934, Nam kỳ), An Nam Phật học hội (1932, Trung kỳ), Bắc kỳ Phật giáo hội (1934, Bắc kỳ). Các hội này ra đời vào thập niên 30 của thế kỷ XX, trong đó Hội đầu tiên là Nam kỳ nghiên cứu Phật học thành lập năm 1931. Với sự ra đời của Hội này, phong trào đạt được địa vị hợp pháp. Đến năm 1945, khi Việt Nam giành được độc lập, các Hội này hoặc dừng hoạt động, hoặc thay đổi tên gọi, tính chất cũng như điều lệ hoạt động. Chẳng hạn như An Nam Phật học hội đổi tên thành Việt Nam Phật học hội, Bắc kỳ Phật giáo hội đổi thành Hội Phật giáo Việt Nam. Thứ hai, tài liệu mà chúng tôi khảo sát là các tờ báo Phật giáo Từ Bi Âm, Duy Tâm Phật học, Viên Âm, Đuốc Tuệ, là cơ quan ngôn luận của các hội nêu trên và đa số đình bản vào năm 19458.
Về tư liệu nghiên cứu, báo chí Phật giáo ra đời trong phong trào chấn hưng là tư liệu chính được sử dụng trong bài nghiên cứu này. Về loại tư liệu này có thể kể đến Pháp Âm (1929), Phật hóa tân thanh niên (1929), Từ Bi Âm (1932-1945), Duy Tâm Phật học (1935-1943), Phật học, phụ trương của tờ Lục tỉnh tân văn (1935-1937) – Nam kỳ; Viên Âm (1933-1945, 1949-1953), Tam Bảo tạp chí (1936-1/1938) – Trung Kỳ; Đuốc Tuệ (1935-1945), Tiếng chuông sớm (1935-1936) – Bắc kỳ. Tiến hành khảo sát bộ sưu tập các tạp chí này, chúng tôi thống kê được 62 bài viết của Ni giới9. Về tài liệu lưu trữ, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Pháp (Aix-en-Provence) phông GGI, RSTNF; Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội phông GGI, RST, MHN, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM) phông Goucoch và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt) phông Thủ hiến Trung Việt. Tại các phông này có thể tìm thấy các hồ sơ về các hội Phật giáo, các chùa, điều tra về hoạt động của các hội Phật giáo. Tuy nhiên, chúng tôi thấy có hai hồ sơ: 2405 (Lưu trữ Hải ngoại Pháp, phông RSTNF) và hồ sơ 3722, phông MHN, trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội, Việt Nam) liên quan đến Ni giới Bắc kỳ. Trong đó, hồ sơ 2405 là một hồ sơ rất quan trọng và có ý nghĩa đối với chúng tôi. Hồ sơ 2405 là các Ghi chép cá nhân về trụ trì các chùa ở các tỉnh miền Bắc được thực hiện bí mật vào năm 1943 ở các tỉnh Bắc kỳ. Mỗi ghi chép có các thông tin cơ bản sau: tên, tuổi, địa chỉ, đào tạo, trình độ Phật học, có tham gia Hội Phật giáo hay không, quan hệ với quan lại và thân hào, tôn giáo, tình trạng vật chất, tầm quan trọng của tự viện, của cải, mức độ ảnh hưởng của ngôi chùa và vị trụ trì với tín đồ. Bên dưới mỗi ghi chép có xác nhận bằng chữ ký và dấu của Lý trưởng, hoặc Tri huyện hoặc viên công sứ. Một ghi chép dưới đây cho phép chúng ta hình dung các thông tin cụ thể được đề cập:
Mặc dù thông tin về Tăng Ni các tỉnh không đầy đủ, chẳng hạn như tỉnh Hải Dương có đề cập tới 7 cá nhân nhưng thực tế trong hồ sơ lưu trữ lại không có các bản cụ thể, nhưng việc xử lý các ghi chép này trong hồ sơ đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin quan trọng về Ni giới Bắc kỳ. Bên cạnh đó, bài viết cũng khai thác một cách có hiệu quả hồi ký của các vị Ni sư thời đó, như Hồi ký Sư cụ bản lược của Ni sư Diệu Tịnh.
Bài viết trước hết trình bày về phụ nữ Việt Nam thời Pháp thuộc, trong đó nhấn mạnh đến những yếu tố mới trong đời sống văn hóa, xã hội do chế độ thuộc địa mang lại tác động đến nhận thức của phụ nữ Việt Nam. Tiếp đó bài viết phân tích sự khác nhau về tình hình của Ni sư ba miền trong thời Pháp thuộc. Cuối cùng bài viết thảo luận về sự vươn lên của Ni chúng canh tân trong phong trào chấn hưng Phật giáo giai đoạn 1931-1945.
2. Phụ nữ Việt Nam thời Pháp thuộc (1884-1945)
Trước khi trở thành thuộc địa của Pháp, Việt Nam là một quốc gia phong kiến thống nhất với thể chế quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền dưới sự trị vì của các vua nhà Nguyễn. Chế độ phong kiến Nguyễn lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng. Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, người phụ nữ giữ một địa vị thấp kém. Họ phải chịu nhiều bất công của quan niệm “trọng nam khinh nữ”. Diệu Không, một người phụ nữ xuất thân Hoàng gia cũng phải thốt lên rằng “Từ khi Nho học tràn sang xứ ta, chị em đều phải khép vào trong khuôn tam tòng tứ đức của cái thuyết Khổng, Mạnh nên chức nghiệp phụ nữ chỉ ở trong gia đình, ngoài ra thì không được dự biết việc gì nữa.”
Từ giữa thế kỷ XIX, vương quốc Đại Nam của các vua nhà Nguyễn từng bước nằm dưới sự cai trị của chính quyền thực dân Pháp. Sau cuộc tấn công vào cảng Đà Nẵng năm.
(còn tiếp)
TS. Ninh Thị Sinh (Khoa lịch sử, Trường ĐHSP Hà Nội 2)(ĐSHĐ-016)
Diễn đọc: SC Đức Tạng
- https://doi.org/10.3390/rel13121189.
- Bài viết này đã được công bố bằng tiếng Anh trên tạp chí Religions 2022.
- https://giacngo.vn/vai-tro-cua-ni-gioi-viet-nam-trong-xa-hoi-hien-nay-post39.html.
- Có thể kể đến một số Ni sư tiêu biểu thế kỷ XXI trong các lĩnh vực khác nhau như: trong công tác giáo dục, nổi bật là Ni trưởng Trí Hải (1938-2003), trong công tác quản lý tự viện có Ni sư Như Đức (Thiền viện Viên Chiếu – Long Thành), Ni sư Huệ Giác (Quan Âm Tu Viện – Biên Hòa)người tiên phong bảo vệ môi trường sinh thái đã tổ chức trồng và chăm sóc trên 400 ha rừng.
- http://vinhnghiem.de/news/index.php?nv=news&op=Dieu-le/Noi-qui-Phan-ban-Dac-trach-Ni-gioi-Trung-uong231.
- Alexander B. Woodside (1976), Community and Revolution in Modern Vietnam, Houghton Mifflin, USA, pp.192200; David G.Marr (1981), Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945, University of California Press, pp.304-308; Nguyễn Thị Minh (2007), Buddhist Monastic Education and Regional Revival Movements in early twentieth century Vietnam, Doctor of Philosophy, University of Wisconsin, Madison; Ngô Đức Hoàng (2015), Building a New House for the Buddha:Buddhist Social Engagement and Revival in Vietnam, 1927-1951, Doctor of Philosophy, University of Washington; Elise Anna DeVido, Buddhism for This world: The Buddhist Revival in Vietnam, 1920-1951, and Its Legacy, in Philip Taylor, Modernity and Re-enchantment religion in Post-revolutionary Vietnam, Institute ò Southest Asian Studies, Singapore, 2007, pp.250-296.
- Elise Anna DeVido, Buddhism for This world: The Buddhist Revival in Vietnam, 1920-1951, and Its Legacy, in Philip Taylor, Modernity and Re-enchantment religion in Post-revolutionary Vietnam, Institute ò Southest Asian Studies, Singapore, 2007, tr. 251.
- Nguyễn Thế Anh, 2008. Parcours d’un historien du Vietnam. Paris: Les Indes savants. 8 Từ Bi Âm 1/1/1932- tháng 6 và tháng 7/1945; Viên Âm 1/12/1933-1945 (78 số), tục bản từ 1949-1953 (79-129); Đuốc Tuệ 10/12/1935- tháng 8 năm 1945; Duy Tâm 1935-1943; Phật học 1935-1937.
- Có những bài dài được đăng trên nhiều số báo chúng tôi tính 1 bài.


















































