Từng nghe:
Phật pháp sáng ngời, ngang biến tam thiên cõi Mầm pháp chủng nhân, dọc khắp tứ bộ châu. Xét thấy:
Lý chân huyền diệu, độ căn cơ thượng hạ Bảo sở nhiệm màu, mở tri kiến lầm mê. Đức Như Lai không không sắc sắc,
Dời Niết bàn đến thế gian ác trược. Bậc Minh Hạnh lai lai khứ khứ, Vào Vô tung lại cõi trần phiền lao. Ngôi tòa cao bỏ lại,
Ngồi đệm rơm chứng quả Bồ đề. Rừng khổ hạnh rời chân,
Bưng bát sữa khoan thai ngộ quả. Hai bỉ thử có – không,
Lấy trung đạo dẹp tan tệ chấp. Xa bờ sinh tử,
Dìu đỡ sáu loài Dọc đất ngang trời, Rộng khắp xưa nay.
Nhớ thuở xưa,
Non 3.000 năm trước: Năm trăm chúng nữ, Lội mưa phơi nắng, Quyết chí tu tâm.
Theo chân Di Nữ Kiều Đàm, Cầu xin chút gia tài Vô thượng. Đức thị giả cầu chân ai nạp, Mong Thế Tôn rủ lòng mẫn thế. Thương thân nữ phận,
Lắm tủi kém hèn, Cậy nhủ xuất gia,
Nương hằng tôn chúng. Cảm thiết nỗi:
Tam vấn cầu, tận lần từ khước. Thiện Thệ chờ, sự lý can đời. Đáu nỗi thế, giai cấp chia đôi. Khắn thứ bậc, có phân hai hạng. Đức A nan trình bạch:
Nữ nam chi khác thân này. Cũng ngũ uẩn, nào sai khác biệt. Phận nhi nữ, dốc tu quyết liệt Nỗi sá gì, cảnh giới như nam.
Chứng La hán, Niết bàn thường tịch Như chim con, đậu chân núi báu Thân hòa đồng, hiện sắc vàng kim. Thế Tôn dự biết thời ngôn:
Pháp Bát Kính một đời vâng giữ Ngang đây đồng hạnh trượng phu Kính tương Tăng, dù trăm tuổi hạ.
Chẳng nặng lời, khi hủy, mạn kiêu. Lại cấm tội, luận lỗi Tỳ khiêu.
Thụ cụ túc, cần cầu Tăng chúng. Sám hữu dư, hạnh phương ý hỷ. Bá tát thời, hành giáo thụ y. Giới an cư, cẩn thủ nghiêm trì.
Giờ tự tứ, kính thành phụng mạng.
Bốn chín năm, tám dư nghìn phương tiện. Độ chúng nhân, niệm hữu tính thiện duyên. Điểm sơ khai, quán khả tính Phật diên. Đâu mỏi nhọc, chờ thời liên hoa tiếu.
Dự chúng hội, Pháp Hoa mong thụ ký. Làm pháp sư, kiến thính đủ sáu nghìn. Tư lương, hạnh giải “Giác hữu tình”. Tương ưng, như nguyện “Ứng Nhân sư”. Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến hiệu.
Bút lẽ, không chi giấy tả Mực mài, chẳng thể kể ghi.
Thoáng thiếu hai ngàn năm đại nguyện Đàm hoa rụng mở lối thơm hương. Khai thiết đèn trần nối mãi.
Ngộ kiến Tuệ uyển vuông bày. Bi thay!
Cảnh đốm hoa hoàn sinh sinh diệt Ánh chớp vầng ảo hóa không không Lý vô thường, thấu tính ba đời
Luật chân hằng, bày ngang tam kiếp
Xót nhẽ!
Cõi sa bà muôn sinh ly hợp
Sợi tử hư ngàn kiếp tụ tan Hỡi ôi! Thử thách xưa, đức Tổ chẳng nề Gian lao thủa, sức nào sá quản Đắng cay – gót mỏi gối mòn
Cơ cực – giới hương tỏa rạng Thị hiện yếu thế nữ nhi
Hiển tướng chí hùng phu trượng Thiết nghĩ!
Nhớ ơn Tổ đức
Tịch mịch giũa phận Thệ kiên nguyện trì Bát kính nhất tuân Môn phong vĩnh chấn Tùng lâm vững lập Kế ấn muôn phương Lĩnh thụ tam thừa Truyền kỳ gia nghiệp Bát nhã biến tùy
Hóa thành thuận thế Phương tiện quyền cơ Mưa pháp nhất như Ba căn nhuận biệt Ngẫm rằng!
Pháp quý nhân duyên Vun trồng trăm kiếp Nhận vô thường biến dị Khuyết mãn mấy trăng
Can chi tính nữ không tròn
Đổi thân tạm nhất ly cầu đạo Chốn thiền môn quảng tế Luật Bát pháp hoằng minh Tự trọn công mãn đức
Chăm vun trồng giống thiện Làm Cùng tử hồi đầu
Chờ quả khai thị ngạn Đạo đời chưa từng sai khác Bảo sở ai kể có hai
Mượn đời tỏ Đạo Giới pháp hằng trì Y trần thế can qua
Nhập sa bà ngộ tỉnh. Cảm cảnh!
Khôn càn đổi dấu Bèo nổi ngược xuôi Thiện duyên tâm chứa Đạo chân tu sửa
Bến màu rửa thân Ác nhân bặt nhiễm Khai thị tư duy Ngộ tri nhập kiến
Chân như nhậm vận Bản thệ không rời Bất động an nhiên Đối trần thấy ảnh Trí bi vẹn đủ
Hạnh nguyện trau dồi Bát yếu dứt nghi
Tam luân không tịch
Năng sở bất phân Sa bà mộng cảnh Cực lạc hiện hoa Đền trả Tổ ân
Truyền đăng pháp tạng Rạng rỡ di phong
Kiều Đàm Ái tử Tuệ đức hưng long Sơn môn trao đặt Pháp phái nối dòng Muôn đời bất diệt.
Nam Mô Ứng Thế Sư Kiều Đàm Di mẫu Đại Ái Đạo tôn giả.
Vũ Hưng Am đường cẩn thủ Đệ tử Thích Bảo Giác


















































