Trong xã hội văn minh hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, thì xu hướng xã hội vận động kêu gọi nam nữ bình quyền cũng đã xuất hiện trên dưới một thế kỷ. Phong trào này ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều tầng lớp trong xã hội, kể cả Ni giới Phật giáo trên toàn thế giới. Một trong những vấn đề tốn nhiều bút mực nhất là Bát Kỉnh Pháp – bản kinh nói về sự thiết lập Ni đoàn.
Bát Kỉnh Pháp được tìm thấy trong Kinh tạng (Tăng Chi, kinh Mahāpajāpati Gotamī) và Luật tạng của Phật giáo hệ Pāli, lên văn bản vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Trong Hán tạng, bài kinh tương đương là Cù-đàm-di (Trung A-hàm, số 116). Các truyền thống Phật giáo căn cứ vào nguồn tài liệu này để xác định rằng chính bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề, kế mẫu của Đức Phật, là người đại diện xin Phật cho nữ giới xuất gia.
Với tâm từ bi vô lượng, tạo nhân duyên thuận lợi cho nữ giới được xuất gia tu học giáo pháp của bậc Hiền thánh trong xã hội trọng nam khinh nữ, phân chia giai cấp quý tiện nặng nề, Đức Phật đã chế Bát Kỉnh Pháp (Tám pháp cung kính dành cho người nữ xuất gia). Tóm lược như sau:
(1) Tỳ-kheo-ni phải cầu thọ giới Cụ túc nơi Tỳ-kheo.
(2) Tỳ-kheo-ni cứ mỗi nửa tháng phải đến thọ giáo nơi Tỳ-kheo.
(3) Nếu nơi trụ xứ không có Tỳ-kheo thì Tỳ-kheo-ni không được thọ hạ an cư.
(4) Tỳ-kheo-ni sau khi thọ hạ an cư phải đối trước hai bộ chúng thỉnh cầu chỉ rõ về ba sự kiện: thấy, nghe và nghi.
(5) Nếu Tỳ-kheo không cho phép thưa hỏi thì Tỳ-kheo-ni không được thưa hỏi.
(6) Tỳ-kheo-ni không được nói điều trái phạm của Tỳ-kheo.
(7) Tỳ-kheo-ni nếu phạm Tăng-già-bà-thi-sa thì phải đối trước hai bộ chúng hành Ma-na-đỏa (pháp Ý hỷ) trong thời gian nửa tháng.
(8) Tỳ-kheo-ni dù đã thọ giới Cụ túc lâu đến một trăm năm, nhưng trước Tỳ-kheo mới thọ giới Cụ túc cũng vẫn phải khiêm cung cúi đầu làm lễ.
Có thể thấy, nếu đọc và suy nghĩ một cách hời hợt tám điều cung kính mà Đức Phật dạy cho những người nữ thật tâm mong muốn xuất gia, đúng là dễ có cảm giác trọng nam khinh nữ, nhất là theo cách nhìn của người hiện đại ngày nay. Thiết nghĩ, cần trao đổi lại một số điểm cốt lõi của Bát Kỉnh Pháp!
1. Bát Kỉnh Pháp có phải là bất bình đẳng?
Như chúng ta đã biết, bình đẳng là một vấn đề lớn của nhân loại, được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu. Nhưng từ xưa đến nay, chưa có ai thiết lập được cơ sở lý luận vững chắc cho tinh thần bình đẳng, cũng như chưa có ai thật sự thực thi tinh thần bình đẳng một cách trọn vẹn. Hơn nữa, các khía cạnh của bình đẳng mà họ quan tâm là sự bình đẳng giữa các quốc gia – dân tộc, giữa các chủng tộc, giữa người và người, bình đẳng về giới tính… Hầu hết các quan điểm này thường phiến diện và không rốt ráo. Khi Đức Phật ra đời, Ngài đã mang lại triết lý về tinh thần bình đẳng thật sự cho nhân loại.
Theo Từ điển Phật học Huệ Quang: ‚Bình đẳng là ngang bằng đồng đều, không cao thấp, cạn sâu. Chỉ tất cả hiện tượng đều cùng một tính: Không tính, Duy thức tính hay Chân như tính”… Đối với chúng sinh cũng phải xem đồng đẳng, không cao thấp, oán thán, đáng được thương xót ngang nhau và có đủ Phật tính như nhau, đây gọi là chúng sinh bình đẳng.”
Theo lời Phật dạy trong Kinh Phạm Võng, Kinh Niết-bàn… thì “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật. Ta là Phật đã thành, tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành.” Đây là lời tuyên bố chắc thật, xuất phát từ tuệ giác tối thượng, mang tính nhân văn với ý nghĩa cao nhất của Đức Thế Tôn về giá trị chân thật của tất cả chúng sinh nói chung, con người nói riêng.
Con người thật trong mỗi người, Phật tính thanh tịnh của mỗi chúng sinh là như nhau; đây chính là cơ sở lý luận vững chắc nhất cho sự bình đẳng tuyệt đối không chỉ giữa người và người, mà còn giữa mọi loài chúng sinh với nhau. Đây cũng là một đóng góp vô giá của triết lý Phật giáo cho văn hóa nhân loại. Theo đó, mối quan hệ giữa người và người là quan hệ tuyệt đối bình đẳng, không có người cao thượng hay hèn hạ vì phân biệt giai cấp, không có tôn ti vì phân biệt nam nữ. Cao thượng hay hèn hạ là do hành vi, suy nghĩ của con người chứ không do giai cấp. Tư tưởng bình đẳng trong đạo Phật dạy con người phá bỏ sự phân chia giai cấp. Điều này thể hiện rõ ràng trong kinh điển, và chính Đức Phật đã hiện thực hóa triết lý này trong việc độ người xuất gia và sinh hoạt trong Tăng đoàn. Khi ấy, bất kể ai, dù ở vào hạng nào, dù đó là ngoại đạo, ác nhơn, tà kiến, bần tiện, ngu dốt,…, nếu biết tin tưởng theo lời Phật dạy mà nỗ lực hành trì thì đều được giác ngộ giải thoát. Từ những vị Tỳ-kheo thượng túc đệ tử Phật tu hành đắc quả như Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Mục-kiền-liên…; Tỳ-kheo-ni như Ma-ha Ba-xà-ba-đề, Liên Hoa Sắc…; thậm chí đến như Đề-bà-đạt-đa có ác tâm hại Phật, Thái tử A-xà-thế giết cha hại mẹ, chàng Vô Não nghe lời ngoại đạo giết người lấy đủ 100 ngón tay, nàng Ma-đăng-già hại Ngài A-nan…, cuối cùng đều được Phật độ và được chứng quả giải thoát.
Tinh thần bình đẳng của Đức Phật được kế thừa và phát huy ở các bậc Thiền sư, Tổ sư, cao Tăng Việt Nam như: Khương Tăng Hội, Mâu Bác, Pháp Hiền, Cảm Thành, Viên Chiếu, Mãn Giác, Ni sư Phương Dung, Ni sư Thiều Hoa, Ni sư Diệu Nhân… Tuệ Trung Thượng sĩ đã triệt ngộ, sống trọn vẹn với con người thật nên mới khẳng định rằng:”Cũng nét mày ngang đường mũi dọc/ Phật với chúng sinh mặt khác nào”1. Cái nhìn thấu triệt thực tướng của vạn pháp vượt không gian, thời gian này là cơ sở vững chắc, mang tính nhân văn với ý nghĩa cao nhất, siêu việt thời đại về sự bình đẳng tuyệt đối không chỉ giữa người và người mà còn giữa mọi chúng sinh với Phật, Trời, Thần, Thánh. Ý nghĩa lớn về triết lý bình đẳng do Đức Phật giác ngộ là một giá trị tinh thần vô cùng cần thiết mà con người trong thời đại văn minh cần phải suy ngẫm.
2. Giá trị bình đẳng của Bát Kỉnh Pháp
Từ xưa đến nay, đã có nhiều tranh luận, bàn cãi về các phương diện, góc độ, và đặc biệt là việc Bát Kỉnh Pháp có phải do Đức Phật chế ra hay không. Ở đây, tác giả chỉ nói về tinh thần bình đẳng của Bát Kỉnh Pháp.
Vì sao Đức Phật cho nữ giới xuất gia? Bởi Ngài thấy rõ, tất cả chúng sinh đều có Phật tính và có khả năng giác ngộ. Đây chính là nền tảng vững chắc nhất về thực tính bình đẳng và tinh thần bình đẳng của Phật giáo, là kim chỉ nam để Đức Phật cư xử với tất cả chúng sinh nói chung và nữ giới nói riêng.
Khế lý – khế cơ rất quan trọng trong việc giảng pháp. Mỗi loại chúng sinh, mỗi người có căn cơ, tư chất, nghiệp chướng khác nhau, Đức Phật tùy theo từng đối tượng mà có phương pháp giáo hóa thích hợp, cốt sao lợi ích và hiệu quả nhất trên tiến trình hướng đến giác ngộ, giải thoát. Bát Kỉnh Pháp và những Giới Luật dành cho Ni giới vẫn không ngoài mục đích ấy.
Tinh thần cốt yếu của Bát Kỉnh Pháp chính là giúp nữ giới phát triển hạnh khiêm cung, nhẫn nại, tiêu trừ ngã chấp, đạt đến cảnh giới vô ngã vô ưu. Trong ý nghĩa này, tâm đã vô ngã thì không tướng hữu ngã nào có thể chướng ngại. Nếu các vị Tỳ-kheo-ni đều suy nghĩ như thật rằng, tất cả mọi khổ đau đều do tâm chấp ngã mà ra, thì Bát Kỉnh Pháp sẽ giúp ta dẹp bỏ cái ngã không thật ấy. Nếu ta chân thật tu hành, hướng tới vô ngã giác ngộ giải thoát thì Bát Kỉnh Pháp đâu có trở ngại gì!
Từ xưa đến nay, các bậc tùng lâm thạch trụ, nữ lưu hào kiệt, hiền đức trưởng thượng trong hàng Ni giới có công đức lớn trong việc hoằng dương Chánh pháp, được cả Tăng Ni kính quý. Bản thân tác giả đến nay cũng đã trải qua nhiều thăng trầm biến động của thời cuộc, nhưng vẫn nguyện suốt đời cung kính, cẩn trọng gìn giữ và khuyên dạy đồ chúng đệ tử tuân thủ Bát Kỉnh Pháp không chút lơ là, nói chi đến việc dám bác bỏ.
Tác giả thiết nghĩ, đối với những người có tâm cống cao ngã mạn, chấp ngã, chấp pháp, có tâm phân biệt, tà kiến thì Bát Kỉnh Pháp đang trở ngại cho ngã chấp của họ; họ sẽ thấy Bát Kỉnh Pháp là không thật bình đẳng, không do Phật chế.
Kết luận
Hiện nay, nhiều người quan tâm đến vấn đề Bát Kỉnh Pháp của Phật giáo, cả trong đạo lẫn ngoài đời, nguyện mong những bậc thạch trụ tùng lâm, cao Tăng thạc đức quan tâm đến vấn đề này với sự thận trọng tối đa, dùng Tam pháp ấn, Tứ tất đàn, Tứ y, Duyên khởi pháp chiếu soi để nhận diện rõ bản chất chân thật của Bát Kỉnh Pháp. Có như vậy mới xây dựng được tinh thần hòa hợp Tăng – Ni như pháp, đồng tâm hợp lực, góp phần hoằng dương Chánh pháp của Đức Thế Tôn trong thời đại khoa học – kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, vật chất lên ngôi, nhưng đạo đức đi xuống, lòng người bất an ngày nay.
NT. Thích nữ Diệu Cảnh
- Đoàn Thị Thu Vân, Thơ thiền Lý Trần, tr.225.


















































