Chánh văn:
Ví như có một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, như vây hai người nếu có gặp nhau cũng như không gặp, hoặc có thấy cũng như không thấy, hai người cùng nhớ, hai sự nhớ nghĩ sâu vào, như vậy từ đời này đến đời khác, như bóng theo hình, chẳng hề trái khác.
Giải nghĩa:
Trước hết dẫn chứng hai ví dụ. Ví dụ nghĩa là mượn gần để rõ xa, mượn cạn để vào sâu, khiến cho chư hành giả dễ bề lãnh hội. Ví dụ như Giáp, Ất hai người, Giáp chuyên tưởng nhớ Ất, Ất nếu có việc đi xa, tâm Giáp luôn ân cần tưởng nhớ, chỉ có Ất chẳng tưởng nhớ Giáp nên quên hẳn không nhớ rõ hình dạng của Giáp. Như vậy, hai người nếu có gặp nhau, hoặc có thấy cũng như không thấy. Một ngày nào đó không hẹn mà gặp. Nếu gặp hoặc thấy, là chỉ có Giáp chuyên nhớ mà nói, Giáp tuy cùng Ất xa nhau, do vì Giáp thương nhớ nghĩ đến Ất, nên thấy hình ảnh Ất phảng phất như ở gần bên, như ở trước mắt, cho đến trong mộng cũng thấy như vậy. Chẳng gặp, chẳng thấy, tức là chỉ cho Ất chuyên quên mà nói. Nhơn vì Ất chuyên quên Giáp, nên tuy cùng Giáp gặp nhau, đối diện trước mặt mà cũng như chưa gặp, chưa thấy. Tình hình hai người này như vậy chứng tỏ nguyên do là: nếu một người Ất chuyên quên chỉ có một người Giáp kia không luận như thế nào, vẫn cứ một lòng nhớ nghĩ, cũng trọn khó mà tương kiến được.
Nay luận về phương diện chuyên quên mà nói thì hai người tuy gặp nhau cũng đồng như chưa gặp, hai người tuy thấy cũng đồng như chưa thấy, ngay ở trước mặt mà lẫn lộn bỏ qua, thật là đáng tiếc vậy! Nếu hai người cùng nhớ, hai sự nhớ nghĩ sâu vào, thì cùng thấy chẳng khó. Giả sử như Ất nhớ đến Giáp, đồng như Giáp nhớ đến hình dạng của Ất, hai người như vậy tất nhiên nhất định như hình theo bóng, chẳng hề trái bỏ nhau. Không những chỉ đời này chẳng trái bỏ nhau, mà cho đến đời đời kiếp kiếp chẳng cũng chẳng xa lìa. Nguyên nhân vì hai người mỗi niệm mỗi niệm cùng nhớ, tâm tâm tương hợp, tự nhiên đời đời kiếp kiếp chẳng bị phân chia, cho nên, nói rằng: Từ đời này cho đến đời khác, đồng như hình với bóng, chẳng hề trái bỏ nhau.
Ví dụ này, mọi người đều có thể hiểu biết. Chỗ gọi là một người chuyên nhớ đó, tức là dụ cho Phật nhớ nghĩ chúng sanh vậy. Một người chuyên quên đó, tức là dụ cho tất cả chúng sanh si mê điên đảo, tâm chẳng hướng về Phật vậy! Phật dạy: Tất cả chúng sanh đều nhớ có Phật tánh, chẳng thiếu một mảy may. Nếu gấp mau chơn thành niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, vị lai đều có thể thành Phật, chỉ do chúng sanh si mê điên đảo bỏ Cha trốn chạy, trôi dạt vào cõi Ta bà ác trược khổ ải này, nên đời đời kiếp kiếp phải chịu các điều khổ não, mãi đến ngày nay chưa hề thôi dứt. Chư Phật luôn rũ lòng từ thương xót chúng sanh, không khi nào bỏ quên. Lại nữa, do Đức Phật A Di Đà ở Tây phương, đặc biệt có nhân duyên với chúng sanh ở cõi Ta bà này nên Ngài rất thương xót, mỗi niệm, mỗi niệm đều muốn hóa độ chúng ta, tiếp dẫn chúng ta ra khỏi biển khổ sanh tử, vãng sanh về cõi nước An Lạc, cho đến tận đời vị lai, đồng hưởng sự an vui vi diệu, theo Phật tấn tu, cùng chứng quả Phật.
Đáng thương chúng ta là hạng chúng sanh phàm phu ngu mê, không có tâm hướng về Phật, đành lòng cô phụ công ơn của Phật, lẽ đâu chẳng hổ thẹn lắm sao? Người chưa nghe Phật pháp, chưa tin Phật pháp, tất nhiên là chẳng nói. Còn như người đã nghe Phật pháp, đã tin Phật pháp, nhưng do vì lòng tin mà chưa được vững chắc nên tuy niệm Phật mà lòng chẳng chơn niệm. Như vậy, cùng với người chuyên quên cũng chẳng kém phần tương ưng. Chư Phật mỗi niệm, mỗi niệm chẳng quên chúng sanh, nhưng vì chúng sanh chẳng có tâm hướng về Phật, nên tuy gặp Phật cũng đồng như chưa gặp. Ví dụ như có người đến nơi điện Phật mà chẳng lễ bái Phật, chẳng cung kính Phật, tâm chẳng ngưỡng mộ, thì cũng đồng như chưa thấy Phật. Lại nữa, sau này có người phát tâm niệm Phật, song miệng tuy niệm Phật mà tâm không chí thành, như người ở trong điện Phật mà tâm vẫn hướng ngoại duyên. Bởi thế cho nên, người niệm Phật thì nhiều mà người vãng sanh Tây phương thì ít. Giống như đứa con rong chơi lêu lổng, cứ chạy theo tập quán phiêu bạt bên ngoài, chẳng nghĩ đến việc quay trở về nhà, tự nhiên trọn chẳng được trở về. Phải biết người này chẳng có một chút xíu ý niệm muốn trở về nhà, đây hoàn toàn là do nơi thường quên trên mặt, nên lầm lẫn mà làm mất lợi lớn vậy. Hãy xem trước mặt: đây là tôn tượng Đức Phật A Di Đà, một tay cầm đài sen, một tay duỗi xuống dưới, đứng nghiêm trang nhớ nghĩ đến chúng sanh, chủ yếu tiếp dẫn chúng sanh qua đến Tây phương. Đâu ai biết được như vậy, nên chẳng có ý mong cầu vãng sanh Tây phương Cực lạc, cô phụ tấm lòng từ bi khó nhọc và công ơn cao cả của Phật. Nếu chúng ta khởi tâm xét nghĩ lại, thì thật là hổ thẹn! Nếu chúng ta, tâm hằng hướng về Phật, thì giống như người khách trọ lâu ngày nhớ nghĩ đến cố hương, một lòng nghĩ đến sự trở về, nhất định được vãng sanh Tây phương chẳng khó. Đây mới chính là hai người cùng nhớ gặp nhau, hai sự nhớ nghĩ sâu vào, không những đời này cùng Phật gần gũi, mà đời đời kiếp kiếp nhất định chẳng lìa xa nhau. Phải biết hiệu lực chẳng xa lìa nhau hoàn toàn đều do chuyên nhớ trên mặt, nên được lợi ích lớn lao như vậy. Chúng ta đã nhờ chư Bồ tát từ bi chỉ dạy cho chúng ta bí quyết thiết yếu, chuyên tâm niệm Phật A Di Đà, chúng ta phải nên bền chặt ghi nhớ trong lòng không thể để một giờ phút nào tạm quên mất vậy.
(còn tiếp)
TKN. Như An (ĐSHĐ-134)
Sc. Huệ Pháp diễn đọc


















































