Cứ mỗi lần đọc lại bài thơ “Tết quê bà” của thi sĩ Đoàn Văn Cừ, tôi lại bắt gặp hình ảnh của mình trong đó. Ngày xưa, tôi cũng đã từng ăn Tết ở quê bà như thế!
Quê bà tôi nằm heo húc ở bưng biền với bạt ngàn ruộng lúa. Bà ngoại đã già, tuổi ngoài 70, sống cùng cậu và mợ. Mỗi năm, cứ sau khi được nghỉ học là ba mẹ gửi tôi về bên ngoại nhờ bà ngoại trông giùm. Ba mẹ tôi làm nghề buôn bán nông sản trên sông. Những ngày Tết bận rộn không ai trông tôi nên ba mẹ buộc phải gửi về ngoại. Ba kể, hồi lúc 5 tuổi, tôi cũng đã từng ăn Tết trên sông cùng ba mẹ. Đó là một năm nhớ đời. Vì ba mẹ mải mê bán hàng, nên để tôi mặc sức ngồi chơi cùng chú cún con. Nào ngờ trong một giây bất cẩn, tôi trượt chân té xuống nước. Cũng may ba tôi phát hiện kịp, nhảy ùm xuống sông bế tôi lên. Chính vì thế, mà từ đó ba mẹ không dám mang tôi theo vì sợ đuối nước.
Những chuyến hàng xa quê, lênh đênh trên sông nước đã làm ba mẹ hao mòn những bữa cơm sum họp bên gia đình. Cuộc sống khó khăn buộc ba mẹ phải thế. Hai người chỉ biết làm bạn với dưa hấu, khoai, thơm,… và nhiều mặt hàng nông sản khác. Mãi đến khi hết Tết, tầm mồng Mười tháng Giêng ba mẹ mới về nhà. Ngày ấy đi ghe không có máy đuôi tôm mà chỉ chèo bằng tay. Vì vậy, vất vả trăm bề, phải mất nhiều ngày đường mới về đến nơi. Dù vậy ba mẹ vẫn không nản lòng, yêu sông nước, yêu ghe chèo như ngôi nhà thứ hai của mình. Cố lao động chân chính chỉ mong sao tôi ăn học nên người.
Ngoại, cậu và mợ thương tôi lắm. Bởi tôi là đứa cháu duy nhất trong nhà. Như thường lệ, cứ sau ngày đưa ông táo về trời là cậu đón xe đò đi rước tôi. Cậu làm thế vì biết ba mẹ tôi bận rộn, mặt khác ngoại nhớ tôi từng phút từng giây. Những ngày cuối năm, tôi phụ cậu trang hoàng nhà cửa, đóng lại cái ghế, cái bàn. Chiếc tủ thờ được tôi và cậu dùng giấy nhám chà lại cho bóng rồi lấy vẹc – ni đánh vào. Lư đồng, bình hoa được cậu khệ nệ bê từ bàn thờ xuống rồi trêu tôi: “Con đánh khi nào cho láng như da mặt của con mới được ngưng nghe chưa”. Ngoài ra, tôi còn phụ bà và mợ làm mứt bí, mứt dừa, mứt sen… Tôi thích cái cảm giác vét chiếc chảo mứt vụn từ trên bếp và nhai ngấu nghiến. Nó thơm ngon làm sau. Khi phơi mứt ngoài sân, tôi có nhiệm vụ trông chừng lũ chim và mấy đứa trẻ hàng xóm phá bĩnh.
Cuối năm, khoảng 29 Tết tôi cùng ngoại đi chợ huyện. Chợ cách nhà 7 cây số, khá xa nên hai bà cháu phải đi xe ngựa. Mới 5 giờ sáng, ngoại đã đánh thức tôi dậy để rửa mặt rồi theo ngoại ra lộ lớn đón xe. Vào những ngày giáp Tết, người ta đi chợ rất đông nên chuyến xe ngựa nào cũng chật kín người. Tôi vẫn còn ngái ngủ nên tranh thủ trên xe, tôi ngả vào lòng bà nằm ngủ thỏa thuê. Âm thanh lộc cộc do sự va chạm của móng ngựa vào con đường đá đỏ không làm tôi thức giấc. Khi đến chợ, điều đầu tiên ngoại làm là tìm chỗ cho tôi ăn lót dạ. Sau đó, hai bà cháu mới vào nhà lồng chợ mua những thứ cần dùng trong mấy ngày Tết. Chợ huyện trong mắt đứa trẻ ngây ngô như tôi thật lớn và lộng lẫy. Cái gì cũng đẹp, cũng lạ khiến tôi choáng ngợp. Nhiều lần tôi suýt lạc ngoại vì mải ngắm gian hàng đồ chơi. Lần nào ra về ngoại cũng mua cho tôi mấy quả bóng bay hoặc vài con tò he cầm về nhà ngắm.
Đêm Ba mươi Tết, tôi thức cùng ngoại để nấu bánh tét, bánh dừa. Dù cặp mắt nhướng không lên nhưng tôi vẫn cố thức để nghe tiếng pháo Giao thừa và xem bà cúng gia tiên. Bao giờ tôi cũng là người dùng đòn bánh tét đầu tiên. Bánh bà gói rất ngon, béo, nên dù bụng căng cứng tôi vẫn muốn dùng thêm. Lần nào cũng thế, cứ cúng ông bà xong là ngoại thở dài: “Tội cho ba mẹ cháu, giờ này phải lênh đênh trên sông, không biết bán buôn ra làm sao…”. Ngoại bỏ lửng câu nói rồi lên võng nằm chờ trời sáng. Tôi cũng nhớ ba mẹ ghê gớm lắm, mà thời đó làm gì có điện thoại di động để liên lạc nên đành chịu.
Sáng Mồng một, lúc tôi tỉnh giấc thì ngoại đã ủi bộ đồ mới cho tôi mặc đi chơi Tết. Tôi được ngoại, cậu và mợ tặng cho phong bao lì xì đỏ thắm, với hy vọng mau ăn chóng lớn để đỡ đần cho ba mẹ. Cậu dắt “con ngựa sắt” ra khỏi nhà, chở tôi và mợ ra Hội chợ xã vui xuân. Riêng ngoại thì ở nhà đón khách và bật radio nghe nghệ sĩ cải lương hát.
Những cái Tết dung dị như thế qua đi nhanh chóng. Đến nỗi tôi muốn kéo lại cũng không kịp. Thoắt một cái, chớp mắt tôi đã thành cha, ba mẹ giờ đã già lọm khọm. Riêng ngoại thì về nơi xa ngái, chẳng còn chung vui với gia đình vào những ngày Tết cổ truyền. Tết năm nào về ngoại, sau khi thắp nén hương xong, tôi đều nhìn di ảnh của bà thật lâu. Rồi mắt tôi chợt đỏ hoe như muốn khóc. Những ký ức xưa ùa về trong tiềm thức. Nhớ quá đi thôi những ngày Tết ở quê bà!
Nguyễn Vũ {ĐSHĐ-148}


















































