Chứng Đạo Ca là tác phẩm trứ danh của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, đây là một áng thi ca tuyệt mỹ trong nhà Thiền. Chứng Đạo Ca được xướng lên làm oanh liệt một thuở huy hoàng, để rồi từ đây con cháu Thiền Tông dùng “đàn không dây – sáo không lỗ” xướng lên khúc ca Chứng Đạo. Trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu sơ lược về tiểu sử của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác.
Thiền sư Huyền Giác sanh năm 665 – tịch năm 713, Sư họ Đới quê ở Vĩnh Gia Ôn Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư xem khắp ba tạng Kinh, trí đức viên mãn, trụ trì chùa Hưng Long. Sư tinh thâm về pháp môn Chỉ – Quán của Đại Sư Trí Khải ở núi Thiên Thai, trong bốn oai nghi lúc nào cũng khế hợp Thiền Quán.
Sư xem Kinh Duy Ma phát minh được tâm địa. Gặp đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng là Thiền Sư Huyền Sách khuyên bảo nên đến tham vấn với Lục Tổ Huệ Năng để được ấn chứng chỗ liễu ngộ. Ngài Huyền Giác đến tham vấn với Lục Tổ Huệ Năng và được Lục Tổ ấn chứng. Từ đây về sau học chúng bốn phương tìm đến tham vấn thật đông. Sư được tặng hiệu là Chơn Giác Đại Sư.
Đời Đường niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713 Tây Lịch) ngày 17/10 tại viện riêng chùa Hưng Long, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, trụ thế 49 năm. Vua sắc ban là Vô Tướng Đại Sư, tháp hiệu Tịnh Quang.
Chứng Đạo Ca là gì?
Chứng là sự chứng đắc, chứng ngộ của hành giả trong khi tu tập. Sự chứng đắc này không ở bên ngoài, mà là sự bừng sáng, giác ngộ nơi tự tâm. Thấu suốt được bản tâm xưa nay chưa từng sanh diệt đó là chứng đạo. Tùy vào nhân duyên, căn cơ và sự khai thị của các Tổ sư mà mỗi hành giả được ngộ đạo. Như Thiền sư Đại Mai Pháp Thường ban sơ đến tham vấn Mã Tổ, Sư thưa rằng: “Thế nào là Phật”. Mã Tổ bảo: “Tức tâm tức Phật”. Thiền sư Đại Mai Pháp Thường liền đại ngộ.
Đạo là gì?
Đạo bàng bạc khắp nơi trong cuộc sống. Mỗi hình sắc, âm thanh, hương vị… đều chuyển tải đạo vị. Nhưng người mê thì đối cảnh lại dính mắc, phân biệt, tạo tác. Còn đối với bậc giác ngộ thì nhân nơi huyễn cảnh mà trở về chân như. Đạo có thể nói năng, suy tư, nghĩ bàn được chăng? Muốn hiểu về đạo chẳng khác nào như trên đầu lại mọc thêm đầu, như cưỡi trâu mà đi tìm trâu, thật uổng công vô ích.
Chứng Đạo Ca là một khúc ca nêu rõ tông chỉ Phật Tâm Tông, giúp hành giả thấu suốt được nguồn tâm của chính mình.
Chánh Văn
Âm:
“Quân bất kiến?
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức Phật tánh
Huyễn hóa không thân tức pháp thân.”
Nghĩa:
“Anh thấy chăng?
Dứt học, vô vi, ấy đạo nhân
Không trừ vọng tưởng chẳng cầu chân
Tánh thực vô minh tức Phật tánh
Thân không ảo hóa tức pháp thân.”
Lời bình:
“Quân bất kiến?”
Mở đầu tác phẩm Chứng Đạo Ca là một câu hỏi: “Anh thấy chăng?” Anh thấy chăng là thấy điều gì? Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác chưa nói lời nào mà đã hỏi Anh thấy chăng? Đây là điểm đặc biệt trong nhà Thiền: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. “Anh thấy chăng?” Anh có thấy cái không lời của đạo, có thấy được sự nhiệm mầu của thực tại, cỏ cây, hoa lá, vạn vật đang hiện bày “ý Tổ sư từ Ấn Độ sang” không? Đây là lời khai thị của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác đối với tất cả hành giả.
Trên hội Linh Sơn Đức Thế Tôn đưa cành hoa sen lên, đại chúng ngơ ngác nhìn, chỉ riêng Tôn giả Đại Ca Diếp chúm chím mỉm cười, Đức Thế Tôn bảo rằng: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, nay truyền trao cho Ca Diếp.”
Cành hoa sen tượng trưng cho Phật tánh sẵn có nơi mỗi người. Khi Đức Thế Tôn đưa cành hoa sen lên ngụ ý rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và tương lai sẽ thành Phật. Và khi đưa cành hoa sen lên Đức Thế Tôn muốn khai thị cho đại chúng chớ quên mình theo vật. Chớ dính mắc nơi cành hoa sen để rồi khởi tâm suy tư, vọng tưởng mà quên mất tánh thấy của mình. Đại chúng đều ngơ ngác, riêng Tôn giả Ca Diếp liễu ngộ được yếu chỉ của Đức Phật, mỉm cười chúm chím, thấu suốt được tánh thấy hằng hiện hữu nơi mình. Khi cành hoa sen đưa lên rõ biết cành hoa sen, khi không có cành hoa sen tánh thấy vẫn thường hằng, không sanh không diệt. Có vật hay không vật đều rõ ràng, thường biết.
“Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân.”
Người dứt sự học hỏi, hiểu biết bên ngoài, đạt được vô vi gọi là đạo nhân nhàn hay còn gọi là người vô sự.
Đạo nhân là người tu đạo, hành đạo.
Nhàn là chỉ cho sự thanh nhàn, tĩnh lặng, không còn vướng bận, dính mắc nơi trần cảnh.
Vô vi là pháp không sanh diệt.
Tuyệt học vô vi là không còn sự tìm kiếm, học hỏi để tăng trưởng hiểu biết, kiến thức và đã thấu suốt các pháp vốn không sanh, không diệt.
Cũng giống như Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn thuở xưa khi còn ở dưới trướng của Tổ Bá Trượng Hoài Hải là một người học một biết mười, học mười biết trăm nhưng vẫn chưa ngộ đạo. Đến khi Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải viên tịch, Hương Nghiêm Trí Nhàn tham học nơi Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. Một hôm Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu hỏi Hương Nghiêm Trí Nhàn rằng: “Ta nghe ngươi ở chỗ Tiên sư Bá Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, đó là ngươi thông minh lanh lợi, ý hiểu thức tưởng là cội gốc sanh tử. Giờ đây thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh xem?” Hương Nghiêm Trí Nhàn không đáp được, bèn cầu Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu khai thị. Thiền sư Linh Hựu bảo rằng: “Nếu ta nói cho ngươi, về sau ngươi sẽ chửi ta, ta nói là việc của ta đâu can hệ gì đến ngươi?” Sau đó Hương Nghiêm Trí Nhàn bèn đến chỗ tháp của Quốc sư Huệ Trung làm Tăng cơm cháo. Một hôm nhân cuốc cỏ trên núi, Hương Nghiêm Trí Nhàn nhặt hòn gạch ném trúng cây tre vang tiếng. Sư chợt tỉnh ngộ, trở về tắm gội thắp nhang nhằm hướng Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu đảnh lễ, ca tụng rằng: “Hòa Thượng từ bi ơn như cha mẹ, khi trước nếu vì con nói thì làm gì có ngày nay.”
Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn khi chưa ngộ đạo là người thông minh, lanh lẹ nhưng chỗ sở học đó cũng chỉ như bánh vẽ không thể no lòng người bụng đói. Chỉ có sự bừng sáng nơi tự tâm, thấu suốt được vạn pháp vốn không sanh, không diệt đó mới chính là chỗ cứu cánh, rốt ráo của đạo. Cho nên, cố Hòa thượng thượng Khánh hạ Anh có dạy đàn hậu học rằng: “Học mà không tu là tu mù. Tu mà không học là đãy đựng sách”. Là đàn hậu học chúng con cần phải dung thông việc học tập Kinh điển và tu tập, cần phải thực hành Văn – Tư – Tu, tu tập Giới – Định – Tuệ để được giác ngộ, giải thoát.
Hải Trung
Cư sĩ Hương Vy Bảo Hải diễn đọc


















































