Đã nhiều năm trôi qua kể từ ngày Sư trưởng Hải Triều Âm xả bỏ báo thân, nhưng trong tâm tưởng của đệ tử con, Người dường như chưa từng đi xa. Mỗi khi tiếng chuông chùa ngân giữa núi rừng Tây Thiên, đại chúng đồng thanh niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật”, hình bóng Sư trưởng lại hiện về: từ hòa mà nghiêm nghị, gần gũi như những năm tháng đệ tử con còn được nương tựa bên Người.
Có những hình ảnh càng qua năm tháng càng sâu đậm: dáng Sư trưởng bên trang kinh dưới ánh đèn khuya, đôi tay gầy miệt mài ghi chép. Trong sự tĩnh lặng ấy, dường như sáu chữ Hồng danh vẫn chảy qua từng hơi thở của Người.
Đệ tử con có duyên xuất gia, tu học và phụng sự bên Sư trưởng từ năm 1980. Nhân duyên ấy giúp đệ tử con học kinh, học luật, cách hành trì và hiểu thế nào là một cuộc đời hiến dâng cho Phật pháp, chúng sinh.
Sư trưởng sinh tại miền Bắc, từng là một nữ trí thức, từng dạy học và có thể chọn cuộc sống bình ổn. Nhưng khi còn tại gia, Người đã thường đến bệnh viện, trại mồ côi và viện dưỡng lão chăm sóc những người đau yếu, cô độc. Hạt giống từ bi sớm nảy nở, khiến Người không thể an lòng trước nỗi khổ của tha nhân.
Một bài giảng kinh Lăng Nghiêm tại chùa Quán Sứ đã mở ra con đường đưa Người đến với Phật pháp. Nhận ra tuổi trẻ, sắc thân, danh vọng và của cải đều mong manh, năm hai mươi chín tuổi, Người rời đời sống thế tục, phát nguyện xuất gia. Từ miền Bắc vào miền Nam, từ Ni trường Dược Sư đến chùa Vạn Đức, từ những năm tháng nhập thất đến núi rừng Đại Ninh, Người nghiên cứu kinh Kim Cang, thâm nhập kinh Lăng Nghiêm, hành trì Tứ niệm xứ, tham học Thiền và cuối cùng chuyên tâm Pháp môn Tịnh Độ.
Đối với Sư trưởng, các Pháp môn không chống trái nhau: Thiền giúp nhận diện vọng tưởng, Bát-nhã phá chấp trước, Giới luật giữ thân tâm trong khuôn phép, còn sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật” là nơi để tâm quay về giữa dòng sinh tử. Niệm Phật vì thế, không chỉ là một phương pháp hành trì, mà là nếp sống tỉnh thức, khiêm cung và buông xả trong từng việc nhỏ.
Sư trưởng rất từ hòa nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc. Người thương đệ tử mà không nuông chiều, luôn mong hàng đệ tử trưởng thành trong giới luật, tự đứng vững trên đường tu tập. Có khi chỉ một ánh mắt cũng đủ khiến chúng con tự nhìn lại mình. Người thường dạy rằng đã xuất gia phải lấy Giới – Định – Tuệ làm sự nghiệp, sống hòa hợp, kính trên nhường dưới và luôn tự soi lỗi mình.
Người không muốn đệ tử chỉ mang hình thức người tu mà trong tâm vẫn đầy hơn thua, giận hờn. Tu hành không phải để được kính trọng, mà để mỗi ngày bớt tham, sân, si, bớt nghĩ đến mình và sống có ích cho đại chúng.
Cuộc sống của Người vô cùng giản dị. Dù tuổi đã cao, Sư trưởng vẫn tự làm nhiều việc, không muốn phiền nhọc người khác; bảy mươi tuổi còn tự giặt áo, tự giăng màn. Nhìn cách Người sống, chúng con hiểu vô ngã không chỉ là một khái niệm trên pháp tòa, mà hiện diện trong việc không đòi hỏi người khác phục vụ, âm thầm làm việc và không mong được ghi nhận.
Thấy hàng hậu học không phải ai cũng có điều kiện đọc những bộ kinh luận đồ sộ, Sư trưởng đã dày công biên dịch, biên soạn và toát yếu gần một trăm đầu sách bằng lời văn giản dị, gần gũi. Người rất ít ghi tên mình, có khi lấy tên đệ tử đặt vào đầu sách. Người làm tất cả không để lưu danh, mà chỉ mong người đọc hiểu đạo hơn, biết hành trì hơn và bớt đau khổ.
Trong số những tác phẩm Sư trưởng để lại, Sống chết bình an gợi cho đệ tử con nhiều kỷ niệm nhất, vì đệ tử con có duyên trực tiếp cùng Người soạn thảo, tóm lược. Ai cũng biết mình sẽ chết, nhưng phần lớn sống như thể cái chết không bao giờ đến; chuẩn bị nhiều cho học hành, sự nghiệp, gia đình và tài sản, nhưng ít chuẩn bị cho giờ phút cuối cùng, khi mọi thứ đều phải để lại.
Sư trưởng hiểu nỗi hoang mang ấy. Khi cái chết đến, địa vị không thể níu hơi thở, tiền bạc không thể ngăn thân thể tan rã, người thân cũng không thể đi thay con đường của mình. Khi ấy, nghiệp lành, công phu đã huân tập và khả năng giữ tâm không tán loạn mới là điểm tựa; với hành giả Tịnh Độ, nơi nương tựa gần gũi nhất chính là câu “Nam mô A Di Đà Phật”.
Vì thương những người không có điều kiện đọc tác phẩm dài, Sư trưởng đã toát yếu Tạng thư sống chết thành Sống chết bình an, cẩm nang giúp người Phật tử chuẩn bị cho mình và trợ giúp người thân trước sinh tử. Tuổi cao, sức khỏe suy giảm, Người vẫn lựa chọn điều thiết yếu, diễn đạt gần gũi với người Việt Nam mà không mất chiều sâu giáo pháp. Phía sau từng trang sách là trí tuệ và lòng từ bi đối với cả những người Người chưa từng gặp.
Sư trưởng thường dạy: Muốn chết bình an, trước hết phải biết sống bình an. Một người cả đời sống trong tham lam, giận dữ, tranh chấp và chưa tập buông xả thì rất khó giữ tâm an định khi thân thể đau đớn, hơi thở yếu dần. Vì vậy, đừng đợi đến lúc bệnh nặng mới niệm Phật. Phải niệm từ khi còn khỏe, lúc vui cũng như khi buồn khổ, trong từng công việc hàng ngày, để danh hiệu Đức Phật A Di Đà trở thành một phần tự nhiên của tâm thức.
Niệm đến khi sáu chữ Hồng danh không còn chỉ là âm thanh nơi cửa miệng mà thành nhịp thở bên trong; giữa thuận cảnh hay nghịch duyên, tâm vẫn có nơi quay về; mỗi khi vọng tưởng nổi lên, câu Phật hiệu giúp hành giả trở về tỉnh thức. Sáu chữ ấy không chỉ dành cho lúc lâm chung, mà là pháp tu từng ngày, mỗi câu niệm là một lần thu nhiếp tâm tán loạn, buông xuống phiền não và chuẩn bị cho sự ra đi sau cùng.
Ni trưởng đặc biệt quan tâm việc hộ niệm người lâm chung. Người dạy người sắp lìa đời yếu đuối, cần được chăm sóc như một hài nhi mới sinh. Không nên khóc lóc, tranh cãi hay lay động thân thể khiến họ thêm hoảng loạn; điều cần nhất là không gian thanh tịnh và sự nâng đỡ bình an.
Người sắp chết không chỉ đau nơi thân mà còn lo cho người ở lại, tiếc việc chưa hoàn thành, day dứt vì lỗi lầm và hoang mang không biết sẽ đi về đâu. Thuốc men có thể giảm đau cho thân, nhưng không thay thế sự an ổn trong tâm. Một lời nói nhẹ nhàng, một bàn tay nắm lấy bàn tay, một câu niệm Phật chân thành đôi khi là sự nâng đỡ lớn lao nhất.
Khi người bệnh không còn đủ sức niệm, đại chúng niệm thay; khi tâm hoang mang, tiếng niệm Phật cho họ nơi nương tựa và nhắc buông xuống lo lắng, luyến ái. Sư trưởng dạy chăm sóc thân thể và tâm thức phải song hành: y học giúp bớt đau nơi thân, Phật pháp giúp con người không bị sợ hãi nhấn chìm.
Mỗi khi có duyên hộ niệm, đệ tử con lại nhớ lời Người: Hộ niệm không phải chỉ niệm thật lớn hay tụng thật nhiều, mà người hộ niệm trước hết phải có nội tâm vững vàng và từ ái. Muốn giúp người khác bình an thì tâm mình phải bình an; muốn giúp họ buông xuống thì chính mình cũng phải biết buông luyến ái và đau thương; muốn câu Phật hiệu có sức nâng đỡ thì người niệm phải có lòng tin chân thành.
Điều khiến hàng đệ tử kính phục nhất là Sư trưởng đã sống và ra đi đúng với điều Người từng giảng dạy. Năm 2009, Người để lại bốn câu thơ:
Ký ca ký cóp,
Đóng góp nên công,
Nhẹ như lông hồng,
Bay về Cực Lạc.
Bốn câu thơ mộc mạc hàm chứa tâm thái của người nhìn sinh tử nhẹ nhàng. Sự bình thản ấy được nuôi dưỡng bằng cả cuộc đời nghiêm trì giới luật, chuyên tâm niệm Phật, phụng sự Tam bảo và buông dần chấp trước.
Những ngày cuối đời, dù thân thể suy yếu, tâm trí Sư trưởng vẫn sáng suốt. Người không than trách bệnh khổ, không biểu lộ sợ hãi hay luyến tiếc, vẫn giữ câu Phật hiệu và khuôn mặt hiền hòa như người đã chuẩn bị đầy đủ hành trang cho chuyến đi xa. Ngày 31 tháng 7 năm 2013, nhằm ngày 24 tháng 6 năm Quý Tỵ, Sư trưởng an nhiên viên tịch, thượng thọ chín mươi bốn tuổi, sáu mươi hạ lạp.
Giây phút ấy, người đệ tử nào lại không đau lòng? Dù đã học về vô thường, chúng con vẫn thấy mất đi một nơi nương tựa lớn lao. Nhưng trong tiếng niệm Phật và trước gương mặt an lành của Người, chúng con hiểu Sư trưởng chỉ rời bỏ chiếc thân già yếu. Giới đức, trí tuệ, lòng từ bi và hạnh nguyện của Người vẫn hiện diện trong trang sách, Ni viện, người đệ tử sống theo giới pháp và sáu chữ Hồng danh Người trọn đời truyền trao.
Có lần, sau khi cùng Sư trưởng hoàn thành việc tóm lược Sống chết bình an, đệ tử con bạch hỏi niệm Phật của Tịnh Độ và trì Chú Di Đà có khác nhau không. Sư trưởng trả lời: “Niệm Phật và trì Chú Di Đà, một pháp không hai.”
Câu nói ấy theo đệ tử con suốt những năm tháng sau này. Danh hiệu hay chân ngôn đều là phương tiện đưa tâm hướng về Đức Phật A Di Đà; điều quan trọng không nằm ở hình thức, mà ở lòng tin, sự chuyên nhất và nguyện lực của người hành trì.
Sư trưởng chọn Tịnh Độ vì khả năng phổ độ rộng lớn: người già, người bệnh, người ít học hay bận rộn đều có thể niệm Phật. Không phải ai cũng có điều kiện đọc nhiều kinh sách hoặc nhập thất dài ngày, nhưng ai cũng có thể chí thành xưng niệm Đức Phật A Di Đà. Sáu chữ ấy giản dị mà sâu xa, đồng hành với con người trong đời sống và trước vô thường.
Năm tháng trôi qua, mỗi khi nhớ cuộc đời Sư trưởng, đệ tử con lại thấy mình cần tinh tấn hơn. Người đã đi qua biết bao gian nan mà vẫn giữ trọn chí nguyện xuất gia; miệt mài dưới ánh đèn khuya viết từng trang sách cho hàng hậu học; đem cả cuộc đời trao cho Ni chúng một con đường tu tập và cho người Phật tử một nơi nương tựa giữa sinh tử.
Mỗi khi sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật” vang lên, hình ảnh Sư trưởng lại trở về: dáng Người bên ngọn đèn khuya, lời nhắc nhở từ hòa mà nghiêm mật, một cuộc đời lặng lẽ trao đi không mong được ghi nhận. Bóng Người đã khuất sau rặng núi, nhưng sáu chữ Hồng danh vẫn vang vọng. Trong tiếng niệm Phật của những thế hệ tiếp nối, hình bóng Sư trưởng Hải Triều Âm vẫn hiện diện như nguồn sáng âm thầm, bền bỉ và chưa bao giờ tắt.
NS. Bảo Tâm
Trụ trì chùa Thiên Ân Tây Thiên, Phú Thọ {ĐSHĐ-155}


















































