Chữ giới luật thường thường được dành cho hàng xuất gia và tại gia đệ tử của đức Phật thọ trì để đem đến an lạc cho bản thân và cho xã hội, công đức của nó vô lượng. Vậy nghĩa của nó là gì?
Chữ Luật có 4 tên gọi:
1. Tỳ-Ni (tức Tỳ-nại-da — Vinaya), dịch là Luật hay điều phục. Điều phục những sự sai trái nơi thân, khẩu, ý. Nó cũng có nghĩa là diệt (tức phiền não). Diệt có nghĩa là nhờ giới này mà chứng được diệt đế, diệt quả.
2. Mộc-xoa, tức Ba-la-đề-mộc-xoa (Pràti-moksa), dịch là Biệt giải thoát.
3. Thi-la (Sìla), dịch là Giới.
4. Upalaksa, dịch là Luật.
Thường thường ta hiểu giới là luật, luật là giới. Nhưng tại sao một chữ mà nói ra hai như thế? Nếu giới là luật, luật là giới, sao không gọi là Giới tạng mà lại gọi là Luật tạng? Vì giới chưa hẳn có luật mà luật thì phải có giới. Giới luật y như là một thang thuốc là vì giới là dược tánh, luật là phương thang. Bất sát như là thục địa, bất đạo là kiết cánh, bất dâm là đổ trọng… mỗi giới như là một vị thuốc. Dược tính có tính cách đắng, màu của nó đen, có mùi thơm, có tính cách dàn hòa, có tính công phá và bồi bổ từng bệnh riêng,đó là dược tính của nó. Trong đạo, đó chính là giới, còn luật là phương thang. Chính luật tạo ra từng phương thang một, có thang ngũ vị để dành cho cư sĩ uống (năm giới), có thang bát vị để cư sĩ tu thêm (Bát quan trai giới), có thang thập vị để mấy vị Sa-di dùng (mười giới dành cho Sa-di), có thang 250 vị để cho mấy vị Tỳ-kheo dùng (250 giới của Tỳ-kheo). Nếu uống thuốc đó vào mà trở bệnh thì sao? Xử lý cách nào? Tóm lại, giới là dược tánh, luật là phương thang. Giới là điều răn, luật là qui luật thi hành giới. Không có luật thì giới không có cách thi hành.


















































