“ Trọn đời đi trong gió bụi,
Vẫn giữ hạt ngọc giữa lòng sen”
Trong dòng lịch sử hành đạo thầm lặng của chư vị thứ lữ, có những vị hiện hữu như đóa sen vươn lên giữa bùn lầy thế cuộc, trọn đời tỏa hương thanh khiết giữa muôn trùng khổ lụy.
Ni trưởng thích nữ Tịnh Minh là một bậc ni lưu như thế_một đóa sen quý giữa vườn tùng lâm của Ni giới Lâm Đồng nói riêng và Việt Nam nói chung. Người là sự hiện thân của giới hạnh, từ bi và trí tuệ, âm thầm hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sanh, dựng xây Tam bảo giữa những miền đất còn hoang sơ thanh vắng nhất.
I. Thân thế:
Ni trưởng Thích nữ Tịnh Minh húy Đồng Mật, tự Thông Hiển, hiệu Tịnh Minh, thế danh Lý Thị Ần, sanh 1927 tại xã Phú Trinh, tỉnh Bình Định.
Ni trưởng được sinh ra và lớn lên giữa lúc quê nhà còn đang trong cảnh chiến tranh loạn lạc. Người đã phải chịu cảnh mồ côi cha từ khi còn trong bụng mẹ vì thân phụ đã bị bọn thực dân bắn chết.
Ni trưởng lớn lên trong sự yêu thương và chăm sóc của người mẹ hiền, chịu thương chịu khó, tần tảo sớm hôm với hy vọng được nhìn thấy đứa con khôn lớn mỗi ngày. Nhưng trớ trêu thay, Ni trưởng lại một lần nữa đối diện với sự sinh ly tử biệt, người mẹ hiền ấy đã ra đi mãi mãi trong cảnh loạn ly giặc giả.
Trước những mất mát đầy đau thương ấy, người con đất Bình Định trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn bao giờ hết. Có thể nói rằng, chính những nỗi đau tột cùng ấy là cánh cửa khai ngộ cho đứa trẻ thơ bước vào con đường đạo Pháp.
II. Thời kỳ xuất gia tu học
Năm 1945, Ni trưởng vào Sài Gòn, đảnh lễ Hòa thượng Luật sư Thích Hành Trụ, được Hòa thượng hứa khả cho thế phát xuất gia tại chùa Tăng Già, nay là chùa Kim Liên, Bến Vân Đồn (Q.4), từ đây hạt giống bồ đề được gieo trồng, cây giới đức bắt đầu sinh sôi nẩy nở.
Năm 1950, Ni trưởng được thầy bổn sư cho Sa-di-ni với pháp danh Đồng Mật.
Năm 1952 Ni trưởng được thầy bổn sư cho thọ giới Thức-xoa Ma-na.
Năm 1954, Ni trưởng được bổn sư cho phép tấn đàn thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Dược Sư (Q.Bình Thạnh), do Đức Trưởng lão Khánh Hòa làm Đường đầu Hòa thượng. Sau khi thọ giới Cụ túc, Ni trưởng đã tham dự lớp Sơ đẳng Phật học tại chùa Từ Nghiêm, do Hòa thượng Thiện Hòa tổ chức. Người không chỉ lĩnh hội tinh yếu giáo pháp mà còn truyền trao lại cho chư huynh đệ pháp lữ liễu nghĩa giáo lý thượng thừa của chư Phật để lại.
Năm 1957, Ni trưởng theo học khóa huấn luyện trụ trì đầu tiên do Đức pháp chủ Giáo hội Tăng-già Nam Việt, Hòa thượng Thích Khánh Anh tổ chức. Đây là khóa đào tạo đầu tiên dành cho Ni giới trong Giáo hội, một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hành đạo của Ni giới trong lịch sử Giáo hội Phật Giác Việt Nam hiện đại.
Người tham dự khóa học này đa phần là những bậc Ni lưu với đạo tâm vững vàng, đạo hạnh trang nghiêm, học với chí nguyện tiến đạo nghiêm thân, học không vì danh, không vì lợi; chỉ cầu giới pháp để hộ trì Phật pháp, tiếp độ ni chúng và thắp sáng đèn chánh niệm giữa cõi Ta bà nhiều khổ lụy.
III. Thời kỳ dấn thân phụng sự:
Năm 1958, vâng theo sự chỉ dạy của Hòa thượng bổn sư, Ni trưởng cùng huynh đệ về tiếp nhận, trùng tu ngôi Tam bảo tại Cầu Tre, nay là quận 11, TP. Hồ Chí Minh, đặt tên là chùa Quan Âm.
Năm 1964, Ni trưởng kiến tạo ngôi già-lam ở quận Tân Phú, Chùa Quan Âm (cơ sở 2). Ngôi chùa được hình thành giữa vùng đất hoang sơ hẻo lánh, với mái lá đơn sơ bốn bề, nhưng lại ẩn chứa tâm nguyện quảng đại, kiến lập Đạo tràng, tiếp độ ni đồ, giáo hóa quần sanh.
Đến năm Mậu Thân (1968), chiến tranh lan rộng, mái chùa cũng bị tàn phá nghiêm trọng, nhưng với tinh thần vô úy, và lòng kiên định, Ni trưởng cùng chư vị ni chúng tiếp tục dựng lại ngôi Tam bảo bằng tất cả tín tâm và nghị lực. Từ mái lá đơn sơ năm nào, chùa Quan âm nay đã trở thành ngôi Tam Bảo, trang nghiêm, vững chãi, là nơi quy tụ biết bao thế hệ tín đồ Phật tử về tu học. Cũng trong năm ấy (1968), Ni trưởng còn tạo dựng một ngôi chùa Quan Âm tại tỉnh Đồng Nai, và giao lại cho đệ tử là sư cô Thích nữ Chúc Hạnh.
Đến năm 1990, nhân chuyến hành hương lên vùng cao nguyên Lâm Đồng, Ni trưởng tiếp nhận ngôi già-lam ở thôn Hiệp Thành, huyện Di Linh. Thuở ban đầu, ngôi Tam bảo nơi đây chỉ là một mái nhà đơn sơ với mái tôn, vách gỗ, còn vương dấu chướng khí sơn lam, nhưng đã gieo mầm cho hạnh nguyện độ sinh giữa vùng đất còn nhiều thử thách này. Năm 2001, Ni trưởng bắt đầu khởi công trùng tu ngôi Tam bảo.
Năm 2002, chùa Quan Âm – Di Linh được khánh thành và trở thành nơi quy ngưỡng của bà con nông dân nơi đây, một vùng đất đã từng là hoang vắng, nay đã trở thành ngôi già lam trang nghiêm sáng ánh đạo vàng.
Với tâm nguyện độ sanh, hoằng truyền đạo pháp, Ni trưởng đã không ngại khó, ngại khổ, Người đã khơi dậy tinh thần xiển dương Phật pháp, trực tiếp hướng dẫn cho đệ tử xuất gia là Ni sư Thích nữ Chúc Nghiêm và Ni sư Thích nữ Chúc Đạt tổ chức khóa tu niệm Phật 7 ngày cho Phật tử về tu học. Lúc ấy, tuy điều kiện còn rất khó khăn về tài lực cũng như nhân lực, nhưng với đức độ và tâm nguyện kiên cố của Ni trưởng, Phật tử về tu học ngày càng đông.
Và từ những ngày sơ khai ấy, đến nay, khóa tu do Ni trưởng khởi xướng vẫn được duy trì đều đặn, đã trải qua 105 khóa, trở thành một Đạo tràng Tịnh độ bền vững vang vọng âm thanh niệm Hồng danh đức Phật giữa núi đồi Di Linh trong nắng sớm mưa chiều.
Bên cạnh việc kiến lập Đạo tràng, xây dựng Tam Bảo, Ni trưởng còn thế độ xuất gia rất nhiều đệ tử, trong đó nhiều vị hiện đã trở thành trụ trì các ngôi chùa ở khắp các tỉnh thành như Long An, Đồng Nai, Lâm Đồng, Hải Dương… Tiếp nối hạnh nguyện của Thầy, truyền thừa ngọn đèn Phật pháp qua bao thế hệ.
Ni trưởng thường dạy chư ni chúng:
“Giới luật là hơi thở của Phật pháp, là cội gốc cho hoa trí tuệ nở sinh”.
Với tâm niệm ấy, Ni trưởng đích thân giảng dạy giới luật cho đệ tử xuất gia suốt ba tháng hạ an cư mà không nề mệt nhọc. Người không chỉ là giáo thọ giảng giới, còn là hiện thân của viên minh châu trong sáng, biểu hiện cho sự nghiêm trì giới luật thanh tịnh.
Ni trưởng đã sống một đời sống thanh đạm, giản đơn, không thị giả, không tiện nghi xa hoa, chỉ có nụ cười từ ái, ánh mắt từ hòa như soi thấu tâm can bao thế hệ đệ tử.
Ni trưởng thường dạy các đệ tử rằng:
“Bớt một câu nói chuyện, niệm một danh hiệu Phật, tích lập từng ngày, tịnh hóa ba nghiệp.”
Lời dạy ấy tuy đơn giản mà sâu sắc, ngắn gọn mà ý nghĩa rộng bao la. Thế nhưng những giữa cuộc đời gió bụi đầy phiền trược này, những bậc lữ thứ đang bước trên hành trình hoằng hóa, liệu có mấy ai đủ định tâm và nghị để hành trì một cách trọn vẹn như thế?
IV. Tham gia đoàn thể:
Ngoài cương vị là Thầy của biết bao đệ tử xuất gia, Ni trưởng còn tham hoạt động Phật sự của Giáo Hội:
Năm 2005 Ni trưởng được Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Quận Tân Phú tin tưởng giao phó trọng trách Ủy viên Giáo dục Ni giới quận Tân Phú.
Với đức hạnh trang nghiêm và hạnh nguyện độ sinh sâu dày, Ni trưởng nhiều lần đảm nhiệm vai trò làm Yết- ma và Tôn chứng sư trong các Đại giới đàn do GHPGVN TP.HCM tổ chức, chỉ lặng lẽ nhưng đầy uy nghiêm, dẫn dắt hàng hậu học bước lên con đường giới học.
Ngoài sự nghiệp hoằng pháp, Ni trưởng còn tổ chức nhiều công tác từ thiện xã hội, giúp đỡ, hỗ trợ cho biết bao gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em cơ nhỡ…
Cả một đời vị đạo quên thân là thế, từ những gì đơn sơ và giản dị nhất, Ni trưởng đã ươm cắm rễ Phật pháp vào lòng người, lòng đất. Hành đạo không ngại ngược xuôi, tiếp độ không phân cao thấp, đó là hạnh nguyện vô ngã, là công trình không tên nhưng đầy sắc không bất diệt: “Tùy duyên hóa độ, vô ngại từ tâm”.
V. Viên tịch:
Lịch sử đã sang trang, con thuyền thế nhân giờ đây đã có thể bình yên lướt sóng. Người đã mượn sắc thân như huyễn mà luyện thành thể tánh chơn thường, lấy đạo đức tình thương làm làm lẽ sống, hóa độ vô cầu, hành đạo vô ngã.
Khi nhân duyên với cõi Ta bà đã mãn, ngày 20 tháng 10 năm Đinh Dậu (2017), Ni trưởng đã thuận lẽ vô thường, an tường xả báo thân, quy hướng nơi cõi Tịnh, thọ tuế 90 năm, hạ lạp 64 mùa.
Thân tứ đại mỏi mòn trên cuộc lữ Xe đại thừa chở khách dặm đường xa Duyên hóa độ vẹn tròn theo năm tháng đường độ sanh muôn thuở ngát hương hoa.
Ni trưởng đến và đi như thế, nhẹ nhàng quy gót về tây, không ràng buộc, không hệ lụy, trở về pháp giới thanh lương, nơi không còn sanh diệt.
Thích nữ Thánh Thảo


















































