Ai đã từng đến mảnh đất Di Linh, viếng chùa lễ Phật, thì khó quên được hình ảnh của hai vị Sư chùa Pháp Hoa: Ni trưởng Huệ Đức và Ni trưởng Minh Hiền.
Vào những năm đầu của thập niên 70, có hai vị Sư trẻ xếp cất bút nghiên, rời xa chốn thị thành, tìm vùng cao nguyên thanh vắng để chuyên tâm tu hành. Ni trưởng Huệ Đức, quê ở Bạc Liêu xuất thân từ chùa Phật Bửu Ni ở Cai Lậy Tiền Giang và Ni trưởng Minh Hiền, quê ở Tiền Giang xuất thân từ chùa Pháp Hoa Ni Viện – Sài Gòn. Hai Ni trưởng đã chọn vùng cao nguyên Di Linh để dừng chân. Lúc bấy giờ, nơi vùng đất này rất hoang sơ, rừng núi điệp trùng đồi dốc, hẻo lánh, dân cư thưa thớt, chủ yếu là người đồng bào k’ho sinh sống trên các đồi cao.
Những ngày đầu đặt chân đến vùng đất này, hai vị đã tự tay dựng lên một am thất đơn sơ bằng cây, vách đóng ván bìa, lợp tranh để ẩn tu. Vì ở sát bìa rừng nên suốt ngày nghe tiếng chim kêu, vượn hú, thi thoảng còn nghe cả tiếng thú dữ gầm rú, đường vào chùa chỉ có một lối nhỏ trơn trượt, xuyên qua những bãi cỏ hoang nhiều gai nhọn và sên, vắt. Nơi ấy, có hai vị Sư sinh sống và tụng kinh hằng đêm dưới ánh đèn dầu leo loét bởi điện lúc này chưa có.
Sau năm 1975, người dân vùng xuôi cũng di cư về đây lập nghiệp, người đồng bào miền núi cũng quay về khai mương làm rẫy ổn định cuộc sống, người dân bắt đầu để ý đến ngôi Tịnh thất hàng ngày vang vọng tiếng tụng kinh niệm Phật của hai Sư, bà con quanh vùng cảm nhận ở đây như có điều gì vừa huyền bí, vừa linh thiêng mà cũng thật là gần gũi, ấm áp. Vậy là, ngôi Tịnh thất đơn sơ ấy đã trở thành mái nhà tinh thần, là không gian yên tĩnh để người dân hành trì giáo lý Phật-đà và những hạt giống từ bi đầu tiên được nảy mầm nơi đây.
Ngày ấy bà con dân tộc k’ho chỉ ở trần và quấn khố, nhiều người cà hết cả hàm răng trên và căng tai bằng ngà voi dài lòng thòng gần chạm vai trông rất kỳ lạ. Để hiểu được phong tục tập quán người bản xứ, hai Sư học tiếng k’ho, khi gần gũi tiếp xúc, hai Sư lại thấy họ thật hiền lành, chân chất. Họ có những rẫy bắp, vườn sắn của riêng mình, nhưng do thói quen uống rượu quanh năm, không biết “tích góp phòng cơ”, nên năm nào cũng thiếu đói vài tháng. Hai Ni trưởng đã nghĩ ra cách nhờ họ đến phụ giúp xới đất trồng bắp, khoai, sắn, chè, cà phê và cây ăn trái. Đến mùa giáp hạt, họ đói kém, hai Sư lại đem sản phẩm thu hoạch được cứu trợ cho đồng bào. Vì vậy tình cảm đôi bên ngày càng trở nên gắn bó.
Sau 4 năm, có được 10 hộ người Kinh theo hai Ni trưởng tụng kinh, niệm Phật. Một trong những Phật tử k’ho đầu tiên là K’ Briu (còn gọi là K’Lang) là già làng của người đồng bào thôn K’Long Trao 1, xã Gung Ré, giáp ranh với thị trấn Di Linh. K’ Lang đã đưa vợ và 3 con đến quy y, sau đó bà con dân làng làm theo. Không chỉ người k’ho ở k’long Trao mà một số vùng lân cận như Hàng Làng (xã Gung Ré), Bảo Tuân (xã Bảo Thuận)… Cũng tìm đến tu học. Thư ký của chùa là K’Bíu, sinh năm 1957, trú tại K’Long Trao, pháp danh Thiện Chiêu. K’Sem sinh năm 1961, pháp danh Thiện Hải, từng đoạt nhiều giải ca nhạc cấp tỉnh, khu vực và toàn quốc, hiện phụ trách ban nhạc của chùa.
Thời gian cứ thế trôi đi, ngôi Tịnh thất nhỏ bé ngày nào dần lớn mạnh, trở thành chùa Pháp Hoa trang nghiêm và rộng lớn. Giai đoạn năm 2001 – 2004, số lượng Phật tử đồng bào dân tộc đến chùa sinh hoạt lên đến mấy trăm người, chùa không đủ mõ để cho trẻ tập đi kinh hành niệm Phật đúng nhịp, hai Ni trưởng nghĩ ra cách dùng hàng trăm cái gáo dừa làm mõ. Hồi tưởng lại: tiếng mõ từ gáo dừa mộc mạc, nhưng cũng hòa nhịp với câu niệm Phật A Di Đà được các em nhỏ vừa gõ vừa niệm Phật kinh hành quanh điện Phật. Tuy nhiên, bàn tay các cháu nhỏ khó cầm chắc được gáo dừa lớn.
Một dịp, chùa Tường Quang ở Tp. HCM lên thăm chùa Pháp Hoa, nhìn thấy cảnh này, Ni trưởng Chúc Hiền cùng một số người cảm thương, nên đã phát tâm cúng dường mấy trăm cái mõ nhỏ xinh xắn có hình cá được khắc phía trên và chúng trở thành kỷ vật được sử dụng từ đó đến nay. Hôm nay, Đạo tràng Phật tử người đồng bào thiểu số, dưới sự dạy dỗ của hai vị thầy, họ đã biết cúng dường trai tăng, biết nấu chay rất giỏi, biết sắp bàn, biết kính lễ chư Tăng Ni bằng những búp sen, cúi đầu hết sức cung kính.
Hằng trăm em nhỏ người K‘ho Tay cầm chiếc mõ hình con cá Đều bước rền vang tiếng Phật Đà Khiến ai nhìn thấy thật thiết tha Bao công dạy dỗ của Sư bà
Thật là vĩ đại quá bao la Chúng sanh thiêu đốt bởi ba nhà Nguyện cầu tu Phật sớm thoát ra.
Năm 2009, chùa Pháp Hoa trở thành điểm sinh hoạt của chư Ni từ huyện Đahuoai đến huyện Di Linh mỗi nửa tháng vào ngày Bố-tát. Toàn thể chư Ni ở đây rất quý kính hai Ni trưởng vì đạo hạnh và sự dấn thân hành đạo vô cùng gian nan cực khổ hơn 55 năm. Mặc dầu sức khỏe của hai Ni trưởng đã trải qua nhiều lần thập tử nhất sinh nhưng tinh thần của Người sáng suốt lạ thường, giọng nói của Người vẫn dõng dạc, lời dạy của hai bậc thầy tuy ngắn gọn, đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc, tinh thần và năng lực làm việc của Người làm cho đại chúng vô cùng kính phục. Phong thái và sự hy sinh của hai Thầy đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự tu học và làm việc của chúng con.
Pháp Hoa vạn vật chuyển mình Gửi bao hy vọng, gắn tình yêu thương
Nơi đây tu tập tỏ tường
Hai thầy đức hạnh tâm thường an vui.
Đối với chư Ni, hai Thầy là tấm gương chói sáng cho đàn hậu học. Đặc biệt, Ni trưởng luôn quan tâm về sự tu học và phụng sự Phật pháp, là những bậc trưởng lão đạo đức và trí tuệ, là bậc Ni nghiêm trì giới luật, nhất là đức hạnh cung kính chư Tăng, hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp phụng sự, lợi lạc nhân sanh. Quý Ngài xứng đáng bậc chân tu khả kính. Người lại còn đa văn, thật thà vui vẻ sống động, luôn thể hiện tinh thần Bồ-tát đạo trong cuộc đời tu tập và phụng sự đạo pháp. Phương châm hành đạo của hai Ni trưởng là “tùy duyên bất biến” và “phương tiện quyền xảo”, nên đã vượt qua mọi chướng ngại. Sự thanh bần thoát tục, cốt cách mộc mạc bình dị và hạnh nguyện độ sanh của hai Ni trưởng không việc nào mà không nhằm hướng đến lợi lạc tha nhân và cộng đồng xã hội. Việc chùa, việc Giáo hội hai Ni trưởng lúc nào cũng lăn xả, dấn thân. Thân giáo của quý Ngài đã đi vào lòng chúng con.
Với phẩm chất người con Phật, với tất cả tâm tư, tình cảm, kinh nghiệm quá trình tu tập nhị vị Ni trưởng đã truyền lại cho Ni chúng, thể hiện tình thương yêu, lượng thứ bao dung, chăm chút từng bữa cơm an lành cho Ni chúng mỗi kỳ Bố tát.
Đặc biệt, khiếu hóm hỉnh hài hước cùng với tố chất thi ca của Người khó ai quên được. Những nụ cười giòn giã, các cử chỉ ân cần trong lời dạy của hai Thầy khéo chuyển tải đạo pháp một cách linh động khôi hài. Điều đó, không chỉ làm cho Ni chúng an vui, mà còn khắc sâu hình ảnh và đạo hạnh của hai Ngài vào trong tâm khảm chúng con để noi theo.
Đối với Phật tử là người đồng bào dân tộc thiểu số, hai Ni trưởng như người mẹ hiền, vừa lo cho họ từng lon gạo, tấm áo, vừa dạy dỗ giúp cho tinh thần họ khai sáng, vững tin với Phật Pháp, tìm được lối sống tích cực với cuộc đời. Hai Ni trưởng đã tưới tẩm hạt giống bồ đề làm nhân duyên cho đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây có niềm tin vững chắc với Tam bảo. Đúng như lời Phật dạy “tự mình thắp đuốc lên mà đi” và hai Ni trưởng đã tự thắp sáng đời mình rồi mồi đuốc cho người khác.
Từ hình ảnh của hai thầy khiến cho chúng con nhận ra được lời Phật dạy là ở đây, trong cuộc sống thường nhật mà hai Ni trưởng đã hiện thân, là bậc mô phạm cho Ni chúng học hỏi: giản dị, bao dung, quan tâm người khác dù phải vất vả nhưng luôn hoan hỷ với nụ cười giòn tràn đầy an lạc:
Pháp Hoa Bố Tát thân thương Khắp cùng ni chúng tựu trung nơi này
Hai thầy tận tụy lắm thay
Lo cho ni chúng rất hay vô cùng Pháp Hoa ngôi bổn tự chung
Con gái Đức Phật một lòng thương nhau Hai Thầy khuyến khích người sau
Động viên toàn chúng cùng nhau tu trì Vô cùng thương tưởng chúng Ni
Pháp thân còn đó, không chi sướng bằng?
Chúng con một dạ ân cần
Một lòng hòa hợp dù gần hay xa Gắn bó tu tập thiết tha
Viên thành đạo quả vào nhà Như Lai Thầy con nặng gánh hai vai
Dạy cho đệ tử tương lai vững vàng Tình Thầy, con mãi nặng mang
Công ơn Thầy vẫn nồng nàn trong tim.
Cuộc đời và hạnh nguyện của quý Ngài đã tưới mát cây Bồ-đề miền đất Di Linh mãi tươi tốt, che mát Ni chúng Bố tát Pháp Hoa vững tiến tu học, cho Phật giáo tỉnh nhà trổ nhiều hoa thơm trái ngọt.
Di Linh đất Phật tỏa hương lành Hai đóa sen vàng rạng đức danh Âm thầm gieo hạt từ bi khắp công hạnh lưu truyền sáng tựa trăng.
Di Linh vùng đất an lành
Pháp Hoa tỏa rạng hương lành gần xa Hai vị đức sáng bao la
Gieo bao hạt giống nở ra Đạo mầu Công hạnh như ánh trăng rằm
Âm thầm tỏa sáng, lặng thầm hiến dâng Lời kinh tiếng kệ thâm trầm
Dắt dìu Phật tử tu hành tinh chuyên Gieo mầm trí tuệ vô biên
Nở hoa giải thoát giữa miền khổ đau Chùa là bến giác nhiệm mầu
Nhờ ơn dìu dắt, nguyện cầu an yên Kính nguyện Sư Trưởng an nhiên
Đạo tâm viên mãn ánh thiêng rạng ngời Pháp Hoa hương tỏa muôn đời
Ni trưởng sáng mãi rạng ngời đạo tâm.
TKN. Thích Nữ Tịnh An


















































