Nếu bạn là một người hơi có chút quan tâm đến các ngôi tự viện Phật giáo, thì bạn sẽ biết rằng điều phổ biến nhất trong các ngôi chùa Phật giáo hiện nay là thịnh hành việc khởi công xây dựng Bảo Tháp. Bảo Tháp (寶塔) chính là tên của tôi.
Bạn hãy nhìn xem! Hiện nay, những ngôi tự viện lớn đang bận rộn xây Tháp, những ngôi miếu nhỏ cũng đang bận rộn xây Tháp; các vị Đương gia Trụ trì, luôn tâm huyết với việc kiến trúc chùa chiền, đột nhiên chuyển phương hướng để xây dựng Bảo Tháp tôi. Điều này không thể không nói là họ đã bị vấn đề trong cuộc sống mà nghĩ ra biện pháp ứng phó một cách thông minh.
Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn1 vô số Bảo tháp đã được xây dựng bởi các vị cao Tăng nổi tiếng cả trong và ngoài nước, trong suốt chiều dài lịch sử. Tuy nhiên, có những khác biệt đáng kể về ý định ban đầu của các bậc cổ đức và người hiện đại, khi xây dựng những ngôi Bảo Tháp này.
Cổ đức xây tháp là vì kính ngưỡng Đức Phật hoặc các bậc cao Tăng, thu thập xá lợi2 để tưởng nhớ họ; người đời nay xây tháp để thu thập xương cốt của người chết nhằm vào đại phát tài nguyên. Sở dĩ có thể gọi tôi là Bảo Tháp, vì tôi có quan hệ với Tam bảo, không thể tách rời Phật, Pháp, Tăng, nhưng nhìn Bảo Tháp tôi được người bây giờ xây dựng, thật sự đã mất đi ý nghĩa của “Bảo” (寶).
Nền kinh tế Phật giáo đã dần dần đối mặt bên bờ vực sụp đổ, trước đây một số tự viện dựa vào đất nông nghiệp để sinh sống, vì cải cách đất đai, họ liền nghĩ đến việc sử dụng Bảo Tháp tôi để duy trì đời sống của họ. Chỉ cần trong chùa bạn có một Bảo tháp, thì bạn có thể nhìn thấy xương cốt người chết đến cửa, bao bọc cuộc sống của bạn không còn lo âu.
Khởi công xây dựng một tòa Bảo tháp, đòi hỏi phải có hàng trăm nghìn nhân dân tệ, thậm chí hàng triệu nhân dân tệ, thì không bao lâu nó sẽ thành công viên mãn. Nhưng tôi quan sát từ bên ngoài, không khỏi thầm xót xa đau lòng. Cơ cấu giáo dục, sự nghiệp văn hóa, đoàn thể từ thiện trong Phật giáo đều đang lớn tiếng kêu gọi, hy vọng và đang rất cần sự chung tay giúp đỡ từ các đồng đạo, nhưng có một số người không muốn chú ý tới điều này, họ trơ mắt nhìn bao nhiêu tuệ mạng của Phật pháp không cách nào phát triển, hoặc nếu có phát triển thì họ sẽ tuyên bố khai tử. Nhưng vừa nghe tin xây đền sửa tháp, họ lập tức hăng hái quyên góp. Con người thật ích kỷ, họ chỉ lo riêng bản thân thôi ạ! Họ chỉ tính toán cho công đức cá nhân, mà không nghĩ đến lợi ích cho quần chúng Phật giáo. Ngốc nghếch quá nhỉ! Họ không biết rằng nên tìm kiếm công đức từ rất nhiều người đang sống.
Bảo Tháp tôi không muốn mọi người có sự tính toán ích kỷ này, tôi không thể một mực chỉ vì kéo dài sinh mệnh chính mình, mà hy vọng mọi người xây dựng Bảo Tháp tôi. Ở đây tôi có thể nói một cách trung thật với các vị, tục ngữ nói rất chính xác: “Cứu một mạng người còn hơn xây bảy tầng Bảo tháp”. Hy vọng các vị sẽ làm nhiều việc hơn nữa cho Phật giáo và việc của người đang còn sống, đừng luôn tìm mọi cách chú ý đến người đã chết.
Nói đến việc tạo Tháp. Tại Ấn Độ, bắt đầu từ Trưởng giả Cấp Cô Độc; tại Trung Quốc, bắt đầu với Khương Tăng Hội. Về những điều này, xin các vị hãy nghe tôi giải thích: Khi Đức Phật còn trụ thế, Ngài thường du hành hoằng hóa khắp Ngũ Ấn3, Trưởng giả Cấp Cô Độc tại nước Xá Vệ, vì không thể thấy được Đức Phật thường xuyên, trong lòng ông khát ngưỡng tưởng nhớ vô hạn, nên ông hướng về Đức Phật cầu xin một vật gì đó lưu lại làm kỷ niệm cúng dường. Đức Phật liền cho ông một ít móng tay và một ít tóc, Cấp Cô Độc lập tức xây một ngôi Bảo tháp để vào đó chiêm ngưỡng lễ bái. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, tám vị vua tại Ấn Độ tranh nhau xá lợi, và mỗi vị đều xây dựng một Bảo tháp, đó là tám đại Linh tháp của Ấn Độ, nguồn gốc đầu tiên của Bảo Tháp tôi là vào lúc này.
Sau đó, đến triều đại A Dục Vương (阿育王 303-232 tr CN), ông đã thống lĩnh 84.000 quốc gia, vì vậy, để tìm Xá lợi của Phật, ông đã xây dựng 84.000 ngôi Bảo tháp. Tạo Tháp, kể từ đó đã trở nên phổ biến trong Phật giáo. Nhiều người cho rằng Bảo tháp tại huyện Ngân (nay là Ninh Ba, Chiết Giang), Trung Quốc, là do vua A Dục kiến tạo, thật ra là một sai lầm rất lớn. Tuy vua A Dục đã thống lĩnh 84.000 quốc gia, nhưng chưa bao giờ thống lĩnh Trung Quốc, làm sao có thể xây Tháp ở Trung Quốc? Sai lầm này là bởi Ngô Việt Vương Tiền Xúc (吳越王錢俶929-988) hâm mộ A Dục Vương xây tạo 84.000 ngôi Bảo tháp bằng tinh chất của vàng, đồng và thép, bên trong lưu giữ “Bảo Khiếp Ấn Tâm Kinh Chú” (寶篋印心咒經), sai lầm đó có lẽ bắt nguồn từ đây mà ra. Đây là việc có quan hệ đến danh dự của một nước, tôi cũng không thể không giải thích rõ ở đây.
Trung Quốc tạo Tháp bắt đầu từ triều đại Tôn Quyền (孫權 182-252), Đại đế nước Ngô thời Tam Quốc. Lúc bấy giờ, Tôn Quyền gặp vị cao Tăng Khương Tăng Hội (康僧會?-280), Tôn Quyền hỏi:
– Giáo pháp mà Đại sư phụng hành là gì?
– Là Giáo pháp của Đức Thích Ca Thế Tôn, bậc Thánh trong Thánh, Thiên trong Thiên. Đại sư Khương Tăng Hội đáp.
– Giáo pháp của Như Lai có gì linh nghiệm không? Tôn Quyền lại hỏi.
– Đức Như Lai diệt dộ, bỗng nhiên hơn một nghìn năm sau, di cốt và xá lợi của Ngài linh thiêng bay khắp muôn phương; Ngày xưa vua A Dục đã xây cất 84.000 ngôi Bảo tháp để lưu giữ, phụng thờ xá lợi và hình ảnh v.v… nên sự hưng thịnh của chùa tháp, cho là một niềm tri ân đối với di sản giáo hóa của Đức Như Lai vậy.
Nhân đó, Tôn Quyền khiến Đại sư cầu xá lợi để xây Tháp, và sự hưng thịnh của Bảo tháp tôi tại Trung Quốc bắt nguồn từ đây. Nhưng người hiện nay tạo Tháp, có phải tuyên dương di hóa của Đức Như Lai không nhỉ?
Thật ra, theo ghi chép trong kinh điển Phật giáo, có tên Xá Lợi mới gọi là Tháp, không có tên Xá Lợi gọi là Chi-đề. Vì nghĩ cho thân phận cao quý của Bảo Tháp tôi, hy vọng không thể gọi chung chung tôi là Tháp. Nếu tên không chánh, thì lời không thuận, đạo lý này là không sai.
Nói đến danh xưng của tôi hiện nay thật là quá nhiều, trong và ngoài nước có vô số Tháp không rõ ràng, đặt tên cho tôi nào là tháp Tam bảo, tháp Xá Lợi, tháp Tổ Sư, tháp Phổ Thông, tháp Y, tháp Vô Ảnh, tháp Kim Tự, tháp Già Da, tháp Lục Hòa, tháp Lôi Phong, tháp Đa Bảo, tháp Linh Cốt… Bảo Tháp tôi, kiến trúc đến chỗ nào, thì cũng chính là Phật pháp phổ cập đến nơi đó.
Nói đến kiến trúc thì nghệ thuật chạm khắc tượng Phật bằng đá, và xây dựng Bảo Tháp tôi tại Trung Quốc, là niềm tự hào mà tôi có thể khoe khoang toàn thế giới. Vô số tượng Phật cao vút, có những tượng cao hàng chục trượng, sừng sững ở nhiều nơi, vươn tới tận mây; hàng nghìn tượng Phật bằng đá tràn ngập khắp mọi nơi như Đôn Hoàng, Vân Cương, Long Môn… Sau khi du khách nước ngoài đến tham quan, họ đều trầm trồ khen ngợi trước sự vĩ đại của Phật giáo, cũng như nền văn hóa vĩ đại của dân tộc Trung Hoa!
Về Bảo Tháp tôi, thường có một số văn nhân mặc sĩ làm thơ ca tụng tôi, nhưng không bài nào phổ biến rộng rãi như bài “Ca dao Bảo Tháp” (寶塔謠) mà người già, trẻ con đều biết đến một cách rộng rãi. “Ca dao Bảo Tháp” này rất đơn giản chỉ vỏn vẹn ba câu: “Linh lung Tháp, Tháp Linh lung, 13 tầng Bảo Tháp Linh lung”. Khen ngợi Bảo Tháp tôi như thế đã đủ rồi. Về sau, một số Sư phụ khi rải hoa than thở trước xương cốt người chết, họ thường chuyển tông thay đổi giai điệu, họ đã lợi dụng câu ca dao này và thêm một vài dòng trở thành “Linh lung tháp, tháp Linh lung, mười ba tầng Bảo tháp Linh lung, chuông đồng treo ở các góc mỗi tầng, ngân vang trong gió đông, đổi âm khi gió tây thổi.” Như vậy, chẳng những đầy tục khí mà nó còn biến một nghi lễ Phật giáo trang nghiêm, trở thành trò ảo thuật, của một điệu hát dân gian.
Người mà tôi không hài lòng nhất là cư sĩ Tô Đông Pha (蘇東坡8/1/1037-24/8/1101), Hàn Lâm Học sĩ đời Tống, ông là một nhà thư pháp, hội họa, văn học, đại thi hào nổi tiếng. Ông có bài thơ: “Sông Trường Giang giống như cái nghiên đựng mực, núi Tiêu Sơn khác nào thỏi mực tay cầm nó mài vào nghiên; tòa Bảo Tháp sừng sững giữa không trung như cây bút to, khoảng bầu trời xanh thẫm như tờ hoa tiên chỉ đủ viết tám dòng thơ”. Từ trong bài thơ này, tuy có thể thấy được tâm tư và khẩu khí của ông phi thường, nhưng ông chỉ xem Bảo Tháp tôi là một cây bút lớn, tôi luôn không vừa ý cho rằng nhà đại văn hào này rất thích nói lời ngông cuồng, thật không nói nổi.
Phiên âm:
Trường Giang hảo tợ nghiên trì bát
Thủ chấp Tiêu sơn tác mặc ma
Bảo Tháp không trung thụ đại bút
Thanh thiên chỉ cấu bát hàng thư
Tạm dịch:
Sông Trường Giang tợ như nghiên chứa mực
Núi Tiêu Sơn chẳng khác thỏi mực tàu
Bảo Tháp giữa không trung như ngọn bút
Khoảng trời xanh chỉ đủ tám dòng thơ
Chánh văn:
長江好似硯池缽
手執焦山作墨磨
寶塔空中豎大筆
青天只夠八行書
Bảo Tháp tôi còn rất nhiều điều muốn nói, e rằng làm phiền các độc giả tiêu phí quá nhiều thời gian, vì vậy tôi chỉ xin đưa ra lời khuyên cuối cùng: Trong Phật giáo đã có rất nhiều Bảo tháp vĩ đại được xây dựng rồi, thật ra ngày nay không cần thiết phải tốn công xây thêm nữa. Mọi người cần nên biết “cứu một mạng người, còn hơn xây bảy ngôi tháp”, nhưng, việc phát triển ngành từ thiện, văn hóa, giáo dục của Phật giáo, làm cho Phật giáo phục hưng, còn hơn xây một nghìn ngôi Bảo Tháp. Xin các vị thông cảm và hiểu rằng đây mới là yêu cầu của Phật giáo và thời đại.
Phần bổ sung:
Bảo Tháp là danh xưng tán dương đối với Tháp Phật, và nó cũng chỉ cho một ngôi tháp được trang trí bằng những báu vật quý giá. “Tháp” nghĩa gốc của Ấn Độ là Lăng mộ, dùng để đặt bình Xá lợi. Hai trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt, tại Ấn Độ xuất hiện một vị quân chủ vĩ đại A Dục Vương, thống nhất toàn quốc, ông đã xây 84.000 ngôi Bảo tháp tích cực truyền bá Phật pháp. Từ đó, Tháp Phật đã trở thành biểu tượng cho các đệ tử của Đức Phật khi tưởng niệm Ngài. Hàng đệ tử và các tín đồ khi nhớ nghĩ đến Phật, họ sẽ lễ bái Xá lợi Đức Phật, cũng giống như lễ bái chân thân của Ngài.
Trong quá trình truyền bá Tháp Phật, đều sẽ dung hợp phong cách kiến trúc của các nước, hình thành Tháp Phật đa dạng. Nhìn vẻ bên ngoài, có Bảo tháp nguy nga tráng lệ; có Bảo tháp phong cách phóng khoáng thanh khiết; có Bảo tháp tao nhã thuần phác cổ xưa, mỗi ngôi đều có nét đặc sắc riêng. Về mặt hình thức, phân ra có tháp kiểu che phủ, tháp kiểu lầu các nhiều tầng, tháp kiểu một tầng, tháp kiểu mái hiên dày đặc, tháp kiểu Tây Tạng và tháp kiểu Kim Cương bảo tòa. Tuy nhiên, cho dù là loại Tháp Phật kiểu nào, thì trên nguyên tắc cũng đều gồm ba bộ phận cấu thành: nền tháp, thân tháp và đỉnh tháp.
Đại sư Tinh Vân (星雲法師著)
Thanh Như dịch {ĐSHĐ-155}
- Niết bàn (涅槃): Dụng ngữ của Phật giáo. Dịch là “Nê Viết” (泥曰), “Nê Hoàn” (泥洹), “Nê Bạn” (泥畔), “Niết bàn Na” (涅槃那) v.v… Nghĩa là “Diệt”, “Viên tịch”, “Diệt độ”, “Tịch diệt”, “An lạc”, “Giải thoát”, “Bất sinh”, “Vô vi”… Đức Phật từ giã thế gian gọi là Niết bàn, nghĩa là bất sanh bất diêt. Ban đầu chỉ cho việc dập tắt lửa hoặc thổi tan gió, sau đó trở thành một thuật ngữ chung trong tôn giáo Ấn Độ cổ đại, đề cập đến cảnh giới cao nhất của người tu hành đã đạt được.
- Xá Lợi (舍利): Tiếng Phạn, dịch là “Thiết-lợi-la” (設利羅), “Thất-lợi-la” (室利羅), nghĩa là cốt thân (骨身) hoặc di cốt (遺骨). Tương truyền, nó là một loại giống như hạt châu sau khi nhục thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trà tỳ, sau này cũng phiếm chỉ di cốt của Đức Phật và các bậc cao Tăng. Xá lợi có thể phân thành Xá lợi xương, Xá lợi tóc và Xá lợi thịt, nói thông thường là đều thuộc về Xá lợi xương. Phật giáo cho rằng Xá lợi là do thông qua công đức tu hành mà thành tựu, phần nhiều kết đọng hình dạng như hạt châu cứng rắn với màu sắc chói lọi.
- Ngũ Ấn (五印): Thời cổ Ấn Độ được chia ra năm vùng, đó là Đông, Nam, Tây, Bắc và Trung.


















































