Khi đạo Phật du nhập vào bất cứ phương sở nào cũng đều khế lí, hợp thời, vận dụng khéo léo mọi hình thức để tồn tại và phát triển. Nhưng có những nghi thức, tập tục dù thời gian xoay vần, lịch sử thăng trầm biến đổi, vẫn giữ một giá trị nhất định, tạo nên nét đẹp văn hóa cho từng khu vực. Trong đó, không thể không nói đến truyền thống “An cư” một nét rất riêng, đặc thù của Phật giáo, chân thường, bình dị, hiển nhiên đi và vào lòng người con Phật một cách âm thầm, lặng lẽ mà bừng lên khí chất ngút ngàn của người Thích tử:” Trau giồi Giới đức – thượng cầu hạ hóa – báo Phật ân đức”.
Truyền thống “An cư” đã có từ thời Đức Phật. Sau khi chuyển bánh xe pháp, Tam bảo hình thành, tục lệ “An cư” đã trở thành nét sinh hoạt truyền thống của Tăng đoàn. Sử liệu ghi rằng, vào mùa mưa năm 528 trước Tây lịch, Đức Phật cùng hội chúng Tỳ kheo nhập hạ đầu tiên tại vườn Nai (Lộc Uyển) gần Ba-la-nại, mở đầu truyền thống An cư về sau, nay gọi là “An cư kiết Hạ.”
Thuật ngữ An cư tiếng Pāli: Vassa, Phạn: varā, Trung Hoa dịch là Vũ An cư (雨安居), (An cư mùa mưa), còn được gọi là Hạ hành (行)…. Bắt đầu kết chế An cư thì gọi là Kiết Hạ (結夏), khi kết thúc An cư là Giải Hạ (解夏)1.
Có thể thấy, dù được định nghĩa qua khía cạnh nào, thì “An cư” luôn mang một giá trị thiêng liêng, sâu sắc cho hành giả trên con đường tiến tu đạo nghiệp.
Quanh năm trọn tháng mà ta không biết dừng chân, lắng lòng để nuôi dưỡng thân tâm thì chẳng khác nào người vô phương lạc hướng,” tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng”, quên mất sơ tâm thuở xưa. Khi ”vọng thất Bồ đề tâm, thị tắc danh vi ma nghiệp2”. “Mã Tổ dựng đạo tràng, Bách Trượng lập thanh quy3”. Tòng lâm dựng lập, Tăng chúng hội tựu, như Giới mà hành, như Pháp mà sống, y Thanh quy, trì Luật tạng thì Đạo Pháp xương minh, Tăng đoàn vững mạnh. Nghiêm trì tự thân, khắc cần tiến tu là một trong những con đường báo Phật ân, và “An cư” là cách thể hiện sâu sắc, đủ ý nghĩa nhất của người đệ tử báo Phật ân đức.
Bao lần tuế nguyệt, mấy bận trăng tròn, Trường hạ Long Vân vẫn nguyên sơ, lặng lẽ, âm thầm, bình dị cung đón từng bước chân chư Tôn đức Ni mọi miền trở về cùng học tu – sinh hoạt, kết nên những chất liệu thanh tịnh nuôi dưỡng Phật tâm.
Khi được cùng Tăng đoàn sinh hoạt là niềm hạnh phúc lớn, mở đầu ngày mới bởi tiếng bảng giữa canh khuya đánh tan đêm dài mộng ảo, thực hành công phu để 24 giờ sống trọn vẹn trong tỉnh thức:
“Ngũ canh dĩ đáo Pháp môn khai
Phổ nguyện đồng đăng Bát nhã đài
Liễu triệt tam thừa dung nhị đế
Cao huyền huệ nhật tịnh vân mai.”
Một khi mắt hiểu và thương nhìn được cuộc đời thì đó là tuệ nhãn, nhìn cuộc đời bằng trái tim người con Phật thì đăng đài Bát nhã, thông tam thừa, dung nhị đế. Nếu không cùng đại chúng thực tập sinh hoạt nơi tòng lâm, thì những câu kệ đề tỉnh kia khó vang vọng trong tâm ta.
Đánh tan tục lụy hồi chuông sớm
Gõ nát trần tâm tiếng mõ trưa.
Già Lam Long Vân – Đạo tràng Tịnh độ, dụng công tu tập không ngoài mục đích về cố quận – hướng tây phương, nên mỗi nhịp bước là câu Phật hiệu, hơi thở Mi Đà lay cõi tịnh để từng bước sen khai, liên trì nở hoa.
Y tông chỉ ấy, nên mỗi hành giả nương vào câu Phật hiệu trong tứ oai nghi, chấp tác, quả đường sớm trưa hay đăng điện cử hành khóa lễ, v.v…, đều y hồng danh Mi Đà mà nói năng động tĩnh thảy an nhiên.
Hữu duyên đến Long Vân, dù lúc An cư hay ngày tự tứ thì câu Phật hiệu vẫn vang vọng suốt đêm ngày 24 giờ tinh khôi. Hình ảnh Ni chúng, rực vàng màu huỳnh y, trang nghiêm lễ bái hành trì giữa ngân nga trầm bổng của lời kinh, tự nhiên:
“Con thấy mình khác lạ
Phật và con nào xa
Cùng chung trên đoạn đường
Đem tình thương muôn phương.”
Giờ làm Phật này chẳng phải trân quý lắm sao, hình ảnh này chẳng phải đáng kính sao! Nếu không có những phút giây quay về thực tập công phu, để nuôi dưỡng tâm Bồ đề thì làm sao ta: thực hành “đẳng Quan Âm chi từ tâm, hành Phổ Hiền chi nguyện hải?.” Ta nguyện thực tập để được tâm từ bi như Đức Quan Âm, rộng độ chí nguyện sánh đại dương như Ngài Phổ Hiền. Nếu không được cộng tu cùng đại chúng sao ta củng cố được sơ tâm? Nếu giong ruổi trên suốt kiếp nhân sinh thì tháng ngày công phu sao sâu dày?. Nếu đi mãi giữa đường trần thì ngõ vào Thánh đạo sao mở lối!
Nương An cư mà ta có đầy đủ những chất liệu để làm Phật, để sống như Phật và làm việc Phật. Bởi thế, “An cư” đã tạo nên nét đẹp trang nghiêm, thanh thoát, vững chãi của người con Phật!
“Theo Tứ Phần Luật San Bổ Tùy Cơ Yết Ma Sớ” quyển 4, giải thích nghĩa chữ An cư như sau: “Thu nhiếp thân tâm yên tĩnh là an, thời kì phải ở lại là cư”. Bộ “Luật Tư Trì Ký” định nghĩa: “Lập tâm một chỗ gọi là Kiết (結). Giữ tâm viên ý mã này lại một chỗ, bớt lăng xăng, đuổi bắt mọi thứ.
”Ba tháng không buộc mà tự dừng
Chín mươi ngày không dây mà tự trói.”
Khi hành giả ở yên một chỗ là cư, đức Khổng tử đã dạy: “An cư lạc nghiệp”, khi mình có an thì sự nghiệp mới mau thành tựu, mà sự nghiệp người đệ tử Phật là gì? Không ngoài trau giồi Giới đức, lấy trí tuệ làm đuốc sáng dẫn lối hành xử tha nhân, tu cần khắc niệm để “thượng cầu – hạ hóa.”
Vào mùa An cư, xen lẫn mọi thời khóa tu tập, đạo tràng Long Vân thỉnh giảng thì các bậc Tôn túc, Hòa thượng… với tinh thần cầu đạo, cầu học. Tu tập y tông chỉ, độ người khéo phương tiện, nếu không có những giờ phút ôn cố tri tân, học hỏi, trao đổi thì cái nhìn, cái hiểu cũng hạn hẹp rồi khi gặp việc như” xúc sự diện tường”. Quảng kiến, đa văn bởi hàng ngày tích lũy, tài cao hiểu rộng bởi cần cù, phấn đấu, nội minh vững vàng, ngoại minh khéo léo, ta mới giáo hóa độ sanh không chướng ngại. Chín mươi ngày tự dừng này để hành giả hoàn thiện tự thân, vào đời hóa độ với hành trang đủ đầy, thân tâm sạch trong, sống đời tịnh hóa. Cư trần mà lạc đạo, tùy duyên chứ không phan duyên. Bởi thân yên nên giữ giới, nhân giới sanh định, nhờ định phát tuệ, tuệ sáng tâm khai là người tỉnh thức, mà Phật là bậc tỉnh thức, sống đời thảnh thơi.
Duyên theo lời kinh để hiểu một ngày cõi phương Tây: Sáng hái hoa dâng cúng mười phương Phật, đến giờ thọ thực trở về bổn quốc trong chánh niệm, thiền hành. Chiều nghe diệu âm, học kinh, tối chuyên cần khắc niệm tu trì. Như vậy, những tháng ngày hành giả An cư Long Vân là những tháng ngày làm Phật, Phật quốc hiện tiền sống đời Tây Phương, ôi! An lạc làm sao. Đẹp trong tinh thần Lục hòa, trong cách giao tiếp, nâng đỡ, chia sẻ tình huynh đệ… hòa hợp như sữa hòa với nước.
” Mỗi người, mỗi nước, mỗi non
Long Vân hội tụ, là con một nhà.”
Dù miền ngược hay xuôi, trở về ngôi nhà chánh pháp đều là con đức Như Lai, cùng thực tập soi sáng, nỗ lực tu tập khi biết: “Nếu mất thân người thôi khó gặp. Cần lo giải thoát niệm Mi Đà.”
Khi công phu rốt ráo, hành trì miên mật thì ruộng phước được gieo trồng, Tăng đoàn nghiêm tịnh thanh thoát phát khởi tín tâm cho hàng cư sĩ. Hình ảnh hơn 500 Ni chúng Long Vân, chân trần, tay bát, mang y tái hiện Ni đoàn theo dấu chân xưa – Kiều Đàm Di Mẫu, trầm hùng mà thanh thoát, uy nghiêm mà nhẹ nhàng. Ni đoàn không giong ruổi khắp miền xứ Ấn, hay du phương sông Hằng để độ sanh, mà mỗi bước Ni chúng Long Vân nguyện noi gương Di Mẫu, nối gót tiền nhân, nội cần khắc niệm, ngoại hoằng độ sanh, đền Phật ân – báo thâm ân. 500 hành giả tái hiện hình ảnh Ni đoàn vang bóng một thuở để hàng Ni lưu lật sang một trang sử mới: thanh tu chốn thiền môn, tiếp cận xã hội, thích ứng hội nhập và phát triển.
Chín mươi ngày lắng đọng, trở về giữa bước thiền hành, hay tịnh tọa niệm Phật để ta có những phút giây an lành! Chẳng phải “An cư” giúp ta xây dựng niềm hạnh phúc tuy đơn sơ nhưng đáng trân trọng, bình dị mà lắng sâu. Được ngồi yên cũng cần nghệ thuật, thân ở yên cũng cần quyết chí, tâm định tĩnh thì cần dụng công, tất cả những Pháp môn hành trì kia đều nương An cư mà phát khởi. Những chất liệu này là phương tiện thiện xảo trên bước đường du hóa.
” Tri cổ bất tri kim, vị chi lục trầm
Tri kim bất tri cổ, vị chi manh cổ.”
Nếu chúng ta không thích ứng cùng sự phát triển của xã hội sẽ bị bỏ lại phía sau, sự độ sanh cũng bị chướng ngại, nhưng nếu chỉ biết cái mới mà quên mất nguồn cội, tâm Bồ đề sẽ bị lung lay trước cảnh vật bên ngoài.
Bởi thế, chín mươi ngày “An cư” chính là sự cân bằng, hài hòa giữa: học – tu; hiểu – thực hành; ứng dụng phương tiện – hoằng hóa độ sanh. Ngoài những lợi ích, ý nghĩa “An cư” mang lại: giữ giới, nghiêm thân, tu trì, tăng trưởng đạo tâm, là ruộng phước để đàn na gieo trồng… mà còn thiết lập nên đời sống tịnh hóa, làm mới thân tâm, hàm dưỡng những chất liệu để nuôi dưỡng vị Phật của chính mình.
Hai mươi ba mùa An cư đi qua, bao lần biến đổi, thăng trầm, người còn, kẻ mất… Trường Hạ Long Vân – nép mình trên vùng đất Trấn Biên xưa vẫn uyên nguyên, bình dị, mộc mạc giữa đất trời đổi thay. Dù không cao sang như thành thị hay non nước hữu tình nên thơ, nhưng Long Vân vẫn chân chất giữ nếp sinh hoạt của Tòng lâm xưa, cổ kính mà đậm sâu, nhẹ nhàng mà nồng ấm. Tình người được thắt chặt, tình Đạo được nuôi dưỡng. Về với Long Vân là ta đang từng ngày trở về soi mình trên dòng sông chí nguyện xưa, củng cố Bồ đề tâm, giữ vững chí Đạo để tạo nên những năng lượng mới cho những ngày hành hóa tiếp theo. Có cơ hội cùng thực tập và trải nghiệm một giai đoạn đạo hạnh, đức hạnh và tuệ hạnh.
Những tháng ngày tu học được bên Tăng thân, trong tình huynh nghĩa đệ là hạnh phúc mà đôi khi nghĩ lại lòng ngập tràn cảm xúc, tri ân tất cả mọi nhân duyên trong cuộc đời đã có những phút giây hạnh ngộ kết nối tình Linh Sơn giữa cuộc hồng trần. Thầy trò Long Vân luôn trân quý mọi thiện duyên khi chư hành giả trở về ngôi nhà xưa, bởi chính nơi đây – ta gặp lại nhau cùng soi sáng để giữ đạo tâm, chia sẻ thuận nghịch trên bước đường hoằng hóa, sách tấn tu học để không phụ thâm ân Tổ Thầy. Cũng chính những tháng ngày “An cư” tạo nên những phẩm chất thuần tịnh và trang nghiêm đó, thầm nguyện ba tháng “An cư “- bởi tất cả tấm chân tình của Thầy trò Long Vân sẽ dệt nên những chí nguyện đại hùng của người xuất gia, nuôi dưỡng tâm đạo của người con Phật, hầu mong Báo Phật Ân đức, đền trả thập phương.
“Cả đời vì pháp quên bản thân
Phụng sự chúng sinh nguyện hiến dâng
Dặm trường gió bụi không sờn chí
Độ mình độ tận khắp chúng sinh.”
Nam mô Hoan Hỷ tạng Bồ tát!
NS. Thích Quảng Tiên {ĐSHĐ-154}
- Theo từ điển https://vi.wikipedia.org/wiki/An_c%C6%B0
- Kinh Hoa Nghiêm.

















































