Sở dĩ biển thấp nên trăm sông mới đổ về, biển chưa từng chê nước nên biển ngày một rộng, núi không chê đá nên núi thêm cao. Cũng vậy, phàm là con người thì giá trị lớn nhất là ở nơi đạo đức. Đức tính khiêm hạ sẽ làm nên một con người vĩ đại. Dù thời đại nào, con người nào, ở vị trí nào thì khiêm hạ vẫn luôn giữ được giá trị của nó. Muốn thực hành được sự khiêm hạ, đòi hỏi người đó phải rèn luyện bản thân qua những khuôn phép, lề lối, Giới Luật. Ngày nay, thế giới đang bước vào thế kỷ XXI, bên cạnh sự phát triển về đời sống vật chất, còn kéo theo những khủng hoảng về môi trường, đạo đức, văn hóa – tín ngưỡng, đặc biệt là sự bất bình đẳng giới tính đã tồn tại từ lâu… Trong lịch sử, nhiều nước thuộc khu vực Trung Đông, châu Á, châu Phi, Nam Mỹ từng xem nữ giới như món hàng trao đổi, buôn bán. Đó là tiền đề làm nảy sinh tư tưởng đấu tranh đòi quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Mặc dù về cơ bản, giá trị của người nữ không thua kém người nam nhưng xét trên thực tế, nữ giới vẫn còn những hạn chế. Điều này được Đức Phật chỉ rõ qua Bát Kỉnh Pháp.
Trong Bát Kỉnh Pháp, điều đầu tiên có thể xem là thuộc về tư tưởng giáo lý, bảy điều còn lại thuộc về cách tổ chức Tăng già trong mối quan hệ giữa Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni. Giá trị chân chính của một tôn giáo nằm ở hệ thống giáo lý và Giới Luật, nhưng công năng thật sự của hệ thống này chỉ có thể thể hiện qua tổ chức của nó. Cho nên, bảy điều sau luôn phụ trợ cho điều thứ nhất và Bát Kỉnh Pháp không những cần thiết cho Ni giới mà còn cho cả những người sống theo giáo lý của Đức Phật.
1. Duyên khởi sự ra đời của Ni đoàn
Theo Edward. J. Thomas1, Giáo hội Ni được thành lập vào khoảng năm thứ 5 sau ngày Đức Thế Tôn thành đạo. Sau đó một năm, bắt đầu chế định một số Giới Luật nhưng phần lớn được hình thành rõ nét và cụ thể vào năm thứ 10. Để hiểu rõ hơn duyên khởi sự thành lập của Ni đoàn, chúng ta cùng trao đổi lại một số vấn đề sau:
Đầu tiên, quay trở lại thời Đức Phật, trong xã hội Ấn Độ cổ đại, vị trí người phụ nữ còn thấp kém, vai trò của họ trong gia đình và xã hội không được ghi nhận. Trong tôn giáo và các giáo phái đương thời không cho người nữ xuất gia tu tập, tham gia các nghi lễ tôn giáo và hoạt động cộng đồng như nam giới. Thậm chí, có những quan điểm cho rằng phụ nữ là nguồn gốc của tội lỗi, sai lầm và ác nghiệp. Những quan niệm đó đã tồn tại và ăn sâu vào tôn giáo, tư tưởng của mọi người. Do đó, không phải Đức Phật không cho phép người nữ xuất gia, gia nhập Tăng đoàn mà chính xã hội và con người Ấn Độ lúc bấy giờ là rào cản lớn. Từ những rào cản đó nên khi Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề xin xuất gia, được sống đời Phạm hạnh theo hội chúng Tăng già, Đức Phật đã không đồng ý ngay. Mãi khi Di mẫu cùng với 500 thể nữ dòng họ Sakya tự phủi bỏ tóc mình, đi chân trần, khoác trang phục thô sơ, tiếp tục hành trình dài đến đảnh lễ Đức Phật để cầu xin cho nữ giới gia nhập Tăng đoàn, rồi cùng với lời thưa thỉnh của Tôn giả A-nan, Đức Thế Tôn mới đưa ra tám quy tắc, nếu mọi người đồng ý tuân theo thì được phép xuất gia, dự vào hàng Tăng chúng. Tám quy tắc ấy chính là tám điều học đầu tiên dành cho Ni giới, là điều kiện, nền tảng cơ bản để nữ lưu bước chân vào cánh cửa Phạm hạnh, sống đời giải thoát. Tám điều này được gọi là Bát Kỉnh Pháp, tám phép tôn kính của Tỳ-kheo-ni đối với Tỳ-kheo. Kể từ đó, Ni đoàn được thành lập. Phải hiểu rằng, việc chế định ra Bát Kỉnh Pháp, vốn dĩ không mang ý nghĩa phân biệt, kỳ thị nữ giới mà là cánh cửa mở ra hướng xuất thế cho nữ giới, đảm bảo giá trị Phạm hạnh của đoàn thể Tăng già cũng như duy trì Phật pháp lâu dài. Về nguyên nhân ràng buộc Ni giới vào Bát Kỉnh Pháp, Đức Phật đã nói: “Này A-nan, ví như một người vì nghĩ đến tương lai, xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua; cũng vậy này A-nan, vì nghĩ đến tương lai, Ta ban hành Bát Kỉnh Pháp này cho các Tỳ-kheo-ni cho đến trọn đời không được vượt qua”2. Ngoài ra, Đức Phật còn thấy được bản tính của người nữ thất thường, do đó phải khéo léo mới có thể độ được cho họ. Đức Phật dạy rằng:”Vì phụ nữ thì cái thói bốc đồng làm cho tâm tính khó giữ duy nhất, thích thú chốc lát, ý xấu lại nổi lên, y như bong bóng nước cái nổi cái mất, không có nhất định nên phải khéo quán sát mới có thể độ cho Ni”3. Với trí tuệ siêu việt, Đức Phật có thể thấy những hiểm họa và khuyết điểm không thể tránh trong tâm tính người nữ như vậy, cho nên khi điều hành song song Tăng đoàn và Ni đoàn cùng một lúc, Đức Phật đã đưa ra tám điều quy định cho Tỳ-kheo-ni nhằm giữ gìn và bảo vệ tương lai của Giáo hội. Đây cũng là lý do Đức Phật dạy:”Một Tỳ-kheo-ni dầu có trăm tuổi hạ, khi gặp thầy Tỳ-kheo mới thọ Cụ túc giới cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và thực hành tất cả các bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ-kheo.” Thực tế, không có Tăng nào mới thọ giới mà cầu mong sự đảnh lễ của một vị Ni lớn nhưng đó là phép hành xử khiêm cung, là trang sức đạo đức tô điểm thêm cho sự lịch nhã của Ni giới cần phải có trong quá trình hành trì tu tập. Mặc dù cho người nữ xuất gia là lưu xuất từ trí tuệ và lòng từ bi, Đức Phật cũng đã lường trước những trở ngại mà xã hội lúc đó đem đến. Họ đã phẫn nộ trước đời sống Phạm hạnh của Ni giới, khi đắp y ca-sa, ôm bình bát đi khất thực trên khắp các nẻo đường. Để làm dịu đi phản ứng bất mãn, hài hòa với phong tục truyền thống và điều luật 143 của Luật Manu, Đức Phật đã tùy cơ chế ra Bát Kỉnh Pháp như một giao ước để người nữ hành trì theo. Đó cũng là bình phong, là thành lũy tốt nhất bảo vệ nữ giới, bởi nhờ thực hiện Bát Kỉnh Pháp, họ luôn có sự bảo hộ của chư Tăng. Có thể nói, Đức Phật được xem là người cách tân xã hội đầu tiên, đưa nữ giới lên một tầm cao mới, chưa có tiền lệ với bất kỳ tôn giáo hay học thuyết nào trên thế giới.
2. Công năng của Bát Kỉnh Pháp
Trên thực tế, có một số quan điểm muốn bác bỏ Bát Kỉnh Pháp vì cho rằng Bát Kỉnh Pháp không còn phù hợp với thời đại ngày nay. Bát Kỉnh Pháp không bình đẳng với Ni giới, Tăng sẽ dựa vào đó để áp đặt lên Ni, làm cho Ni giới đã thiệt thòi lại càng thiệt thòi hơn. Cần phải hiểu rằng, Đức Phật là bậc đại giác, đã đoạn tận hết thảy lậu hoặc thì không thể có sự kỳ thị đối với Tỳ-kheo-ni. Kể cả sau này Bát Kỉnh Pháp được kết tập lại bởi Tôn giả A-nan và Ưu-ba-li thì các Ngài cũng đã đoạn tận hết lậu hoặc, do vậy, không thể có sự thêm bớt hay tuyên thuyết sai lời ý của Đức Phật. Sự nghi ngờ khởi lên từ vọng niệm. Người phụ nữ thời nay có thể làm chủ mọi vấn đề trong đời sống, có thể gánh vác mọi công việc từ gia đình ra ngoài xã hội. Thậm chí, nhiều người còn tuyên bố không cần đàn ông, không cần chồng vì bản thân họ có thể làm được mọi việc để lo cho con cái, gia đình. Người xuất gia ở một số nước như Đài Loan đã không duy trì Bát Kỉnh Pháp một cách triệt để, vì vậy, khi tiếp xúc với văn hóa tôn giáo khác, họ khởi lên suy nghĩ rằng tôi phải giống họ, phải làm được như họ, không cần tuân theo những Giới Luật dù đó là Giới Luật Đức Phật chế ra, thậm chí còn cho rằng Bát Kỉnh Pháp không phải là Đức Phật chế. Có người đi theo khuynh hướng cực đoan,”nâng bản ngã” của mình lên, để rồi quên đi mục đích lý tưởng của người xuất gia là phải đạt đến sự vô ngã. Họ cứ loay hoay tìm kiếm một hệ tư tưởng mới lạ, phù hợp với tiêu chí và đem lại quyền lợi cho mình. Thiết nghĩ, bác bỏ Bát Kỉnh Pháp không phải là điều Ni giới nên làm. Đức Phật dạy:”Các Tỳ-kheo không nên ban hành những luật lệ không thích hợp và không bãi bỏ những luật lệ đã được ban hành bởi Tăng đoàn”4. Giới Luật được ví như châu báu nhưng bỏ châu báu, chạy theo tư tưởng thế tục để nâng bản ngã mình lên thì cần phải thận trọng. Hơn nữa, đức Sơ Tổ Kiều-đàm-di đã đắc pháp, không phải là tác bạch Yết-ma giới Tỳ-kheo-ni mà đắc pháp bằng Bát Kỉnh Pháp. Ngay chính lúc Di mẫu thành tâm quỳ xuống, đón nhận Bát Kỉnh Pháp một cách cung kính và hoan hỷ cùng với lòng phát nguyện hành trì, vâng giữ Bát Kỉnh Pháp cho đến trọn đời, từ giây phút thiêng liêng đó, Ni đoàn đã được thành lập. Qua đó để thấy rằng, chúng ta xuất gia tu hành là đặt đạo lên trên chứ không phải đặt bản ngã. Chính lúc Di mẫu quỳ xuống, lắng đọng hết những cấu uế trần tục, đạt sự vô ngã thì lập tức chứng quả. Do vậy, chỉ cần có niềm tin bất hoại đối với Tăng, với Giới Luật, nỗ lực chuyên cần thì nữ giới cũng có thể chứng đắc như Tăng, không khác! Thành tựu được Bát Kỉnh Pháp mới thành tựu được bản thể của Tỳ-kheo-ni, nếu bỏ thì bản thể Tỳ-kheo-ni sẽ bị ảnh hưởng. Do vậy, Bát Kỉnh Pháp được ví như dược liệu trị bệnh nghiệp cho người nữ, nâng thiện căn phước đức của người nữ lên ngang tầm với người nam để tu hành, từ đó chứng được quả vị A-la-hán là quả vị bình đẳng giữa Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni. Còn đối với chư Tăng, khi chư Ni thực hành Bát Kỉnh Pháp thì không tỏ lòng kiêu ngạo. Chư Ni sẽ được tăng thêm phước nhờ vào sự khiêm hạ cung kính, không hề mất quyền lợi trong tổ chức giáo hội và không mất phẩm chất đức hạnh vốn có của mỗi người. Hơn nữa, Bát Kỉnh Pháp diệt trừ sự kiêu mạn, giữ khoảng cách vừa đủ khi được chư Tăng dạy dỗ. Đối với Tăng, chư Ni luôn là người con, người em nên luôn che chở Ni; cho nên, càng thực hành và tôn trọng Bát Kỉnh Pháp thì chư Ni càng được nhiều lợi ích trên tiến trình tu học, đạt đến sự giải thoát. Nhất là đối với lớp Ni trẻ hiện nay, cần phải nương theo Bát Kỉnh Pháp, Giới Luật để rèn luyện lời nói, hành động của mình luôn ở trong khuôn khổ của Thánh hiền. Như Sư bà Hải Triều Âm, là sao khuê của Ni giới, một đời khiêm cung, chưa bao giờ dám đội mão Quan Âm, chưa bao giờ dám quên Bát Kỉnh Pháp, luôn đội Bát Kỉnh Pháp lên đỉnh đầu, thấy Tăng dù mới thọ Sa-di cũng cung kính vái lạy.
Kết luận
Thiết nghĩ, sinh ra được làm người là khó, nay được xuất gia lại càng khó hơn. Được xuất gia, được nhận những lời chỉ dạy của đức Bổn sư và những người đi trước thì lại càng thêm phước báu. Những gương sáng rừng thiền, những vị Ni đã luôn hành trì Bát Kỉnh Pháp – đức hạnh của các Ngài vẫn còn đó, cho nên, dù sống thời đại nào cũng không quên nguồn gốc lưu xuất của mình. Khẳng định rằng những gì Đức Phật dạy và chư Tổ gìn giữ là không sai, cho nên Bát Kỉnh Pháp chính là tấm chắn bảo vệ chư Ni trên bước đường học và hành đạo. Bát Kỉnh Pháp:”là pháp được ái mộ, ưa thích, đáng được làm gương để bắt chước”5, nhờ đó mà những ai thực hành sẽ đạt được lợi ích”làm cho sáng chói trú xứ mà vị Tháh đệ tử sống” ở trú xứ nào vị ấy sống sẽ giúp được rất nhiều người”6. Cho nên, được trở thành Tỳ-kheo-ni sống đời sống Tăng già, xứng đáng là”con gái Đức Phật” thì nên tu tập Giới – Định – Tuệ, hành trì đúng Bát Kỉnh Pháp. Cứ hành đạo một cách minh nhiên thì mọi phước đức sẽ tự đến, để không cô phụ lòng từ bi của Đức Phật đã chấp nhận cải cách cho nữ giới trong xã hội lúc bấy giờ. Điều cần làm là chư Ni cần có niềm tin kiên định với những pháp chư vị Tổ sư đã hành trì, như Đức Phật đã dạy người nữ cần phải tăng trưởng năm điều:”Tăng trưởng về lòng tin, tăng trưởng về giới hạnh, tăng trưởng về nghe nhiều, tăng trưởng về thí xả, tăng trưởng về trí tuệ. Này các Tỳ-kheo, được tăng trưởng với năm sự tăng trưởng này, này các Tỳ-kheo, một nữ Thánh đệ tử được tăng trưởng trong Thánh tăng trưởng”7.
Thích nữ Thông Hạnh
- Theo: Edward. J. Thomas, The Life of the Buddha as Legen and History
- Tăng Chi VIII.51, Kinh Mahàpajàpati Gotamì.
- Trí Quang (dịch) (2009), Luật Tiểu, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.175.
- Thích Thái Hòa (2017), Niềm tin bất hoại đối với Thánh giới, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.36.
- Thích Minh Châu (1996), Tăng Chi Bộ Kinh II, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.733
- Sđd, tr.735.
Thích Minh Châu (Dịch, 1991), Kinh Tương Ưng 4, thiên Sáu Xứ, chương III: Tương Ưng nữ nhân, Phần I: Phẩm Trung Lược, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.703
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thích Minh Châu (Dịch, 1991), Kinh Tương Ưng 4, Thiên Sáu Xứ, Chương III: Tương Ưng nữ nhân, phần I: Phẩm Trung Lược, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Thích Minh Châu (Dịch, 1996), Tăng Chi Bộ Kinh II, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Thích Thái Hòa (2017), Niềm tin bất hoại đối với Thánh giới, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
4. Trí Quang (Dịch, 2009), Luật Tiểu, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
5. Edward. J. Thomas, The Life of the Buddha as Legen and History.
1


















































