1. Dẫn nhập
Phật giáo Thủ đô hôm nay được xây dựng và kế thừa tinh hoa truyền thống của Phật giáo Thăng Long nghìn năm văn hiến, uy nghiêm trầm hòa, và cổ kính vô cùng đặc sắc. Cùng với sự phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Thủ đô có những thuận lợi và ưu thế. Vì đây là nơi đặt trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (chùa Quán Sứ), có Học viện Phật giáo Việt Nam (chùa Sóc Sơn), có Bảo tàng Phật giáo Việt Nam, Phân viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, các lớp Cao đẳng Phật học và trường Trung cấp Phật học, đã đào tạo hàng trăm Tăng Ni, hàng chục Tăng Ni du học nước ngoài, thành tài trở về phục vụ Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thành phố Hà Nội. Từ ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981 đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà Nội dưới sự lãnh đạo của các Chư Tôn Thiền Đức Tăng, đã phát triển mạnh mẽ với số lượng lớn về tự viện, Tăng Ni và Phật tử.1 Là một thành phần quan trọng của Phật giáo Thủ đô, Ni giới Thủ đô cũng là nguồn nhân lực quan trọng cùng với nhân dân, Phật tử trên địa bàn tạo ra những bước phát triển bền vững. Nhờ có sự kế thừa truyền thống của các Tổ Ni trong lịch sử và phát huy các sức mạnh nội tại vốn có, Ni giới Thủ đô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong những năm gần đây.
2. Đặc điểm đời sống tu học của Ni giới Phật giáo Thủ đô Hà Nội
Một là, sinh hoạt Ni giới Phật giáo ở Hà Nội hiện nay luôn kế thừa tinh thần nhập thế truyền thống yêu nước của các bậc Ni Thủ đô trong lịch sử dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, và thống nhất đất nước. Thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, có thể kể đến những đóng góp của Sư Bà Thích Đàm Tiến, chùa Mai Hương, Hà Nội, đã giúp đỡ cách mạng từ thời kỳ “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội,” được Chính phủ tặng “Kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công” và Bằng khen “Có công với nước.”
Vào giai đoạn 1946-1954, trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, ở vùng địch tạm chiếm, rất nhiều chư Ni đã che chở, bảo vệ cán bộ và bộ đội, nhiều vị được Chính phủ tặng thưởng huân, huy chương.
Ni giới Thủ đô ở nhiều tự viện còn trực tiếp tham gia bộ đội, dân quân du kích, và nuôi giấu cán bộ như chùa Thanh Nhàn, chùa Viên Minh, quận Hai bà Trưng, Hà Nội. Các Ni sư trụ trì tại các tự viện nay đã hết lòng giúp đỡ và bảo vệ bí mật cho tổ công tác hoạt động nội thành. Sư cụ Đàm Đăng trụ trì chùa Diên Khánh, ở làng Dịch Vọng Sở, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội, cùng hai Ni sư Đàm Minh, Đàm Tranh, đào hầm bí mật phía sau nhà Tổ để che giấu phục vụ cán bộ và du kích qua lại hoạt động những năm 1948-1951, và được Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng II. Nhiều gương sáng Ni giới Hà Nội khác góp phần đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống Thực dân Pháp của dân tộc đi đến thắng lợi năm 1954.
Trong kháng chiến chống Mỹ can thiệp giai đoạn 1954-1975: Năm 1958, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam được thành lập tại Thủ đô đã phát huy truyền thống dân tộc và phát tâm “Đại thừa bồ tát” của Đức Phật là: “cứu nhất thiết chúng sinh, bất xả nhất thiết chúng sinh”, (cứu độ hết thảy chúng sinh, không bỏ một chúng sinh nào) để cứu đạo cứu đời lúc Tổ quốc lâm nguy. Từ tháng 10/1958 đến 1968, nhất là thời gian chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Tăng Ni tu hành tại các chùa ở Hà Nội đã làm rất tốt phần phụng đạo đối với Phật Tổ, phát huy được chính tín bài trừ mê tín làm cho đạo Phật ngày một xương minh, lợi lạc quần sinh. Thực hiện lời Phật dạy “Phật pháp bất ly thế gian pháp”, nhiều vị Ni sư đã tham gia công tác xã hội ở địa phương, giữ vai trò chủ chốt trong các đoàn thể hợp tác xã, được bầu là chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến, cá nhân xuất sắc, và được bầu vào Hội đồng Nhân dân các cấp. Đặc biệt có vị tham gia dân quân du kích như sư bác Thích Đàm Dần ở Chùa Nam Dư Hạ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, sư thầy Thích Đàm Nhâm ở chùa Ngọc Trục, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Nhiều vị trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Đế quốc Mỹ được chính phủ tặng thưởng Huân chương, Bằng khen. Hưởng ứng lời kêu gọi tết trồng cây, các chùa ở Hà Nội, đều hăng hái trồng hàng vạn cây các loại để làm rợp mát cảnh chùa và phục vụ sản xuất, chiến đấu. Những cử chỉ và hành động tốt đẹp ấy là lời phát nguyện: “Đãn hữu lợi ích vô bất hưng sùng” (Những việc gì có ích đều làm tất cả).
Tháng 11/1981, Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam được tiến hành tại Hà Nội. Các hệ phái tổ chức Phật giáo ba miền thống nhất. Năm 1986 đất nước bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1990 trở đi, chính sách tôn giáo cởi mở của Đảng và Nhà nước ta đã tạo điều kiện cho Phật giáo Việt Nam nói chung. Ni giới Hà Nội nói riêng phát triển vượt bậc. Sự ra đời của Phân ban đặc trách Ni giới Hà Nội ngày 15/8/2007 giúp Ni giới đoàn kết gắn bó hơn nữa trong tu học, Phật sự, đáp ứng kịp thời nguyện vọng của Ni giới Phật tử tại địa phương mình. Phân ban có nhiệm vụ giúp Ban Tăng sự Phật giáo Thành phố Hà Nội, tổng hợp tình hình sinh hoạt của các chùa Ni trong thành phố triển khai thực hiện các công tác Phật sự thuộc về Ni vận động các chùa Ni, ủng hộ giúp đỡ đồng bào nghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa, nêu cao tinh thần tương thân tương ái, cùng với các hoạt động Phật pháp, Ni giới đã tích cực tham gia nhiều hoạt động xây dựng chính quyền bảo vệ môi trường, công tác từ thiện dấn thân vào các hoạt động ích nước lợi đạo, tích cực tham gia công tác Phật sự và thế sự,
Hai là, sinh hoạt Ni giới Phật giáo ở Hà Nội hiện nay luôn gắn liền với các hoạt động kinh tế – xã hội Thủ đô.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, cùng với cả nước bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, là Thủ đô của cả nước, là trung tâm văn hóa chính trị và nhân văn quốc gia, vì vậy, Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó, sinh hoạt Ni giới Thành phố Hà Nội luôn gắn liền với các mục tiêu kinh tế – xã hội của Thủ đô, tập trung theo tinh thần nhập thế, gắn đạo với đời, thực hiện theo phương châm của Giáo hội “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội”, với mục tiêu: “Dân giàu – nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh”. Các chư Ni Thủ đô đã tích cực tham gia vào các hoạt động kinh tế chính trị hướng dẫn sinh hoạt Phật tử, ổn định đời sống dân cư góp phần đảm bảo an ninh và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố.
Ba là, sinh hoạt Ni giới Phật giáo ở Thành phố Hà Nội hiện nay gắn với các mục tiêu văn hóa và phát triển bền vững của Thủ đô.
Mục tiêu phát triển văn hóa và phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội, được xác định cụ thể: Định hướng chung là xây dựng thành phố Hà Nội trở thành một đô thị xanh văn hiến, văn minh, hiện đại, có bản sắc trên nền tảng phát triển bền vững, mọi sinh hoạt Ni giới Hà Nội đều gắn với các mục tiêu đó. Ni giới Hà Nội tích cực bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của Thủ đô trên nền tảng phát triển bền vững. Các giá trị văn hóa Phật giáo được Tăng Ni nói chung và Ni giới Thủ đô nói riêng luôn có ý thức tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ trùng tu tôn tạo. Những di sản phong phú đa dạng trước hết là các giá trị đạo đức. Ni giới Thủ đô cũng nhận thức được rằng, đạo đức Phật giáo thể hiện ở mục tiêu muốn đưa lại hạnh phúc và an lạc cho nhân sinh, trong các bài thuyết pháp của mình, Ni giới Phật giáo Thủ đô luôn nhấn mạnh đối với các Phật tử về nguyên tắc đạo đức mà Đức Phật dạy cho chúng sinh là phải: tự lực phấn đấu, đề cao lòng từ bi vô ngã vị tha, làm điều thiện ngừa điều ác. Bản chất của đạo đức thể hiện qua hành vi gương mẫu của Phật tử. Phật giáo, luôn khuyến khích chúng sinh: “Tự độ độ tha, tự giác giác tha” không phân biệt giữa ngã nhân (ta) và tha nhân (người khác). Tư tưởng từ bi cứu nhân độ thế, vị tha của Phật giáo đã có tác dụng bồi đắp, làm phong phú thêm đạo lý trong tâm hồn người Việt Nam, là lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả) của Phật giáo để thanh lọc đời sống tinh thần của Phật tử, trước áp lực của bối cảnh thị trường hóa. Chắc chắn là với tư tưởng khoan dung, hòa bình khuyến thiện, ngừa ác, Phật giáo sẽ góp phần thức tỉnh lương tri con người làm cho con người được sống trong hòa bình nhân ái, chủ động phòng ngừa cái ác và hiểm họa chiến tranh. Trong phạm vi từng quốc gia, khát vọng sống yên bình, trên một đất nước thanh bình, chỉ được hiện thực hóa khi đời sống được xây dựng trên nền tảng đạo đức, để mỗi thành viên trở thành nhân tố tích cực cho xã hội. Nói cách khác đạo đức Phật giáo có khả năng điều chỉnh hành vi con người, cũng tức là đóng góp vào việc đào tạo nguồn nhân lực có phẩm hạnh để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước không ngừng phát triển và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, Ni giới Thủ đô luôn ý thức về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo Thủ đô. Đó là những kết tinh trong không gian văn hóa truyền thống của ngôi chùa – một thiết chế văn hóa đặc thù, là môi trường sống hằng ngày do chính các bậc chư Tăng Ni trụ trì, tu hành. Trong môi trường sống tu hành đó của chư Tăng Ni, Ni giới thủ đô luôn có trách nhiệm bảo tồn trùng tu và xây dựng. Trong danh mục xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia, chùa cũng chiếm một tỷ lệ khá cao. Hà Nội có 465 trên tổng số 3058 di tích quốc gia của Việt Nam. Có thể kể đến những ngôi chùa tiêu biểu ở Hà Nội như: chùa Một Cột, chùa Lý Triều Quốc Sư, chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên (Nghi Tàm), chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Thầy, chùa Hương, chùa Mía v.v..
Nhiều tự viện ở Hà Nội đã hình thành những không gian văn hóa truyền thống điển hình, kết hợp với những sinh hoạt văn hóa Phật giáo như: lễ Vu Lan, Đại lễ Phật đản, tụng kinh niệm Phật hằng ngày của nhân dân Thủ đô… Như chúng ta đã biết, lễ hội văn hóa truyền thống được coi là một thành tố mang giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu. Lễ hội văn hóa Phật giáo của Thủ đô Hà Nội cũng là một thành tố văn hóa như vậy, lễ hội Phật giáo nơi đây còn là nơi tích hợp các mặt giá trị văn hóa phi vật thể rất phong phú và đa dạng ngoài phần nghi lễ Phật giáo trong lễ hội. Nhiều hình thức văn hóa nghệ thuật độc đáo khác như trình diễn các hình thức nghệ thuật dân gian đặc biệt là nghệ thuật chèo gắn với các tích Phật, tích truyện giàu tính nhân văn khuyến thiện – trừng ác, v.v. Lễ hội Phật giáo cũng là nơi giao lưu cộng cảm và liên kết tình thân trong các cộng đồng Phật tử ở từng đạo tràng nói riêng, cộng đồng cư dân các làng xã vùng miền nói chung, không gian văn hóa trong ngôi chùa thường xuyên có tác dụng giáo dục hun đúc nhận thức và tình cảm của chúng sinh2.
Như vậy, văn hóa Phật giáo trong các sinh hoạt tu học của Ni giới thủ đô đều hướng đến mục tiêu bảo tồn văn hóa phát huy bản sắc trên nền tảng nguyên tắc phát triển bền vững gắn với bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong bản sắc văn hóa Việt Nam.
Bốn là, sinh hoạt Ni giới Phật giáo ở Thành phố Hà Nội hiện nay gắn với mục đích giáo dục đạo đức, lối sống cho Phật tử.
Ni giới Hà Nội từ rất sớm trong lịch sử đã nhận thức được tầm quan trọng của giáo lý Phật đà trong giáo dục đạo đức lối sống cho Phật tử. Là trung tâm Phật giáo Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, Phật giáo Thủ đô từ ngày đầu đã thích ứng khá nhuần nhuyễn với tín ngưỡng phong tục tập quán bản địa và nhờ đó những tinh hoa của giáo lý nhà Phật đã tìm được môi trường thích hợp để nở hoa kết trái sức mạnh của Phật giáo thể hiện ở khả năng hòa đồng tính khoan dung và tinh thần dân chủ bình đẳng. Giáo sư Trần Đình Hượu đã có suy nghĩ đúng đắn về Phật giáo: Ai chuyên tâm niệm Phật, nghĩ điều thiện, làm việc thiện thì được vãng sinh cực lạc. Nước Phật không chỉ dành riêng cho người xuất gia, càng không phải dành riêng cho kẻ giàu sang. Không phải quần chúng đến với Phật mà Phật đến với quần chúng. Quần chúng hóa như vậy, nên Phật giáo có ảnh hưởng rộng rãi tới xã hội. Kết quả của việc đó là người tu hành gắn với quần chúng nghèo khổ và ngôi chùa gần với làng xã, cho nên làng xã Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng đều có sự hiện diện của ngôi chùa thờ Phật.
Ni giới Hà Nội cũng luôn có ý thức tinh thần “gắn đạo với đời” và “đồng hành cùng dân tộc”, tạo ra nhiều cơ hội để Phật giáo đóng góp thiết thực cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc và cho Thủ đô Hà Nội. Mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm, nhiều tu sĩ Phật giáo, trong đó có Ni giới Thủ đô đã khoác chiến bào, cùng dân tộc đánh giặc giữ nước. Trong thời bình xây dựng đất nước, các vị Tăng Ni Thủ đô nói chung, Ni giới Hà Nội nói riêng lại hướng dẫn phương pháp tu luyện, phổ biến giảng dạy giáo lý nhà Phật, giúp cho Phật tử tạo lập được nếp sống, lối sống chân thiện mỹ. Đặc biệt, các chư Ni hướng Phật tử biết cách nhìn nhận và giải quyết đúng đắn những vấn đề cốt lõi trong đời sống của con người về “Sinh lão bệnh tử”, chỉ dẫn cho họ phương cách làm sao để có thêm ý nghĩa của hạnh phúc, an vui về mặt tinh thần bên cạnh các giá trị vật chất. Nhờ thế, Phật giáo Hà Nội đã cắm rễ sâu và luôn là chỗ đứng quan trọng trong đời sống của xã hội của nhân dân Thủ đô.
Năm là, sinh hoạt Ni giới Phật giáo Thành phố Hà Nội luôn tuân thủ các quy định Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Phân ban Ni giới Thủ đô và chấp hành tốt các chủ chương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, và của Thành phố Hà Nội. Sinh hoạt Ni giới Thành phố Hà Nội được dựa trên giới luật Tỳ Ni của Phật pháp và Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hằng năm công tác an cư kết hạ cho Ni giới và thụ giới đàn, gìn giữ bát kính pháp luôn được Ni giới Thủ đô thực hiện tốt. Theo đó, Phân ban Ni giới Thủ đô Hà Nội tổ chức an cư tập trung cho các vị Ni theo truyền thống Đức Phật chế định được trang nghiêm, thanh tịnh trong suốt 3 tháng.
Trong những hoạt động đời sống đạo của mình. Ni giới TP Hà Nội đã đóng góp nhiều cho công tác Phật sự như tham gia vào Ban Trị sự Phật giáo các cấp, giảng dạy cho các Ni giới đang học tập tại các trường Trung cấp của Thủ đô Hà Nội, thuyết giảng cho cư sĩ Phật tử ở các trường Hạ cũng như các đạo tràng ở các chùa.
Trong suốt chiều dài lịch sử Ni giới Phật giáo Thành phố Hà Nội với tấm lòng từ bi đã cùng Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, có mặt trong mọi lĩnh vực của cuộc sống từ việc thực thi đạo hạnh đến tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ hòa bình, trùng tu chùa cảnh cho đến các hoạt động từ thiện xã hội. Về công tác từ thiện xã hội phân ban Ni giới Thành phố Hà Nội tham gia giúp đỡ thực hiện phương châm “Phụng sự chúng sinh là thiết thực cúng dường Chư Phật”, “Sống tốt đời đẹp đạo”, trên tinh thần “Đạo pháp Dân tộc”, Ni giới toàn Thành phố Hà Nội luôn chú trọng công tác an sinh và từ thiện xã hội như: Ủng hộ Quỹ vì biển đảo quê hương, Quỹ vì người nghèo, xây nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết..vv. Tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình chính sách, các nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, các cháu mồ côi, thăm hỏi những người già neo đơn, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt, các mảnh đời bất hạnh, học sinh nghèo vượt khó tại địa phương, xây nhà tình nghĩa, phát cơm cháo ở các bệnh viện, xây cầu đắp đường và các chuyến từ thiện ở vùng núi khi bão lũ, cứu trợ các gia đình thiệt hại do bão lũ không những ủng hộ tiền mặt còn ủng hộ phẩm vật cần dùng đồ dùng dụng cụ, thuốc men, nhu yếu phẩm, chia sẻ những bữa ăn yêu thương cho đồng bào bị thiên tai do bão lũ gây thiệt hại lớn, và hưởng ứng các cuộc vận động từ thiện từ các cấp ban ngành của nhà nước phát động. Ni giới Phật giáo ở Hà Nội còn tích cực thực hiện tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Nhiều tấm gương Ni giới Hà Nội tiêu biểu “sống tốt đời đẹp đạo” được xã hội ghi nhận và tôn vinh.
Những sinh hoạt Ni giới Phật giáo Thủ đô hiện nay góp phần thay đổi nhận thức xã hội về hình ảnh các vị Ni, đồng thời khẳng định vị thế của các chư Ni trong Tăng đoàn. Ni giới Thủ đô ngày càng nỗ lực hoàn thiện mình về đạo hạnh, trở thành chỗ dựa tâm linh, tinh thần tin cậy cho nhân dân Thủ đô, Ni giới Thành phố Hà Nội là một bộ phận quan trọng trong sự phát triển chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên bước đường hoằng dương Phật pháp, lợi lạc quần sinh.
3. Kết luận
Với sự kế thừa những công hạnh của các bậc trưởng lão Ni và truyền thống của dân tộc Việt Nam, Ni giới Thủ đô đã và đang vững bước trên con đường tu học, xiển dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh. Đời sống tu hành của các chư Ni Thủ đô đã luôn gắn với việc bảo vệ truyền thống văn hóa, giữ gìn nếp sống đạo hạnh chốn Thiền môn, phát huy những giá trị đạo đức tâm linh, truyền bá chính pháp. Các ngài đã dấn thân trong các công tác từ thiện xã hội, luôn làm tốt đạo đẹp đời, đem lại lợi ích cho tự thân và tha nhân, góp phần xây dựng một Tăng đoàn vững mạnh và tạo nên một sức mạnh đoàn kết, thống nhất từ tư tưởng đến hành động.
Ni sư, TS. Thích Đàm Luyện
- Tính đến năm 2012, Phật giáo Hà Nội có hơn 1.500 tự viện, hơn 2.000 Tăng Ni và hơn 2 triệu Phật tử. Xem Thích Thiện Nhơn (2012), Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Thủ đô Hà Nội 30 năm một chặng đường. Nxb. Hải Phòng, tr. 20.
- Đặng Văn Bài (2008). Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Di sản văn hóa số 2 (tr 23), tr.23.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội (2009). Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2009, Thành hội Phật giáo Hà Nội. Lưu hành nội bộ.
2. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội (2010). Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2010, Thành hội Phật giáo Hà Nội. Lưu hành nội bộ.
3. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội (2011). Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2011, Thành hội Phật giáo Hà Nội. Lưu hành nội bộ.
4. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội (2012). Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2012, Thành hội Phật giáo Hà Nội. Lưu hành nội bộ.
5. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội (2013). Báo cáo tổng kết công tác Phật sự năm 2013, Thành hội Phật giáo Hà Nội. Lưu hành nội bộ.
6. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội (2014). Báo cáo tổng kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2014, Thành hội Phật giáo Hà Nội. Lưu hành nội bộ.
7. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội (2007). Báo cáo lễ ra mắt Phân Ban Đặc trách Ni giới Hà Nội, nhiệm kỳ 1 (2007 – 2012), tháng 10 năm 2009. Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thành hội Phật giáo Hà Nội.
8. Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hội thảo kỷ niệm 25 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2006). Hội đồng Trị Sự TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
9. Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2011). Hội đồng Trị Sự TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
10. Thích Thiện Nhơn (2012), Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Thủ đô Hà Nội 30 năm một chặng đường, Tọa đàm Phật giáo Thủ đô 20 một chặng đường, Nxb. Hải Phòng.
11. Bồ đề Tân Thanh – Nguyễn Đại Đồng (2012), Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981), Nxb. Văn học, Hà Nội.
12. Tọa đàm Phật giáo Thủ đô 30 năm một chặng đường, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Phân ban đặc trách Ni giới, Vai trò của Ni giới trong quá trình hình thành phát triển Phật giáo Thủ đô (1981 – 2011). Thành hội Phật giáo Hà Nội ấn hành.
13. Thích Nguyên Toàn (2015), Hành trạng chư Ni Miền Bắc nửa cuối thế kỷ XIX đến nay, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.


















































