Năm 1972, tôi vẫn còn là một thiếu nữ nhỏ tuổi trong gia đình Phật tử thuần thành tại Đà Lạt. Khi ấy, Sư Bà Hải Triều Âm trụ trì tại chùa Đức Hòa, đường Nguyễn Du – Đà Lạt, một Đạo tràng thanh tịnh và uy nghiêm. Gia đình tôi thường đến chùa lễ Phật, nghe Sư Bà giảng pháp. Hình ảnh Sư Bà với phong thái điềm đạm, giọng nói trầm hùng mà từ hòa, đã gieo vào lòng tôi những hạt giống đạo lý đầu tiên. Cũng trong năm ấy, em tôi – khi mới lên chín – đã được Sư Bà cho phép xuất gia. Từ đó, duyên lành của gia đình tôi với chùa Đức Hòa và Sư Bà ngày càng thêm sâu dày.Năm 1975, đất nước bước vào một trang sử mới. Giữa biến động của thời cuộc, nhiều bạn bè tôi chọn thoát ly gia đình, tham gia lực lượng thanh niên xung phong. Còn tôi, giữa ngã rẽ cuộc đời, lại nhận được một tín hiệu lặng thầm từ sâu trong tâm thức. Đó là lời gọi của con đường tu học. Tôi đã quyết định xuất gia, nương tựa Sư Bà Hải Triều Âm – bậc Thầy mà tôi hằng kính ngưỡng.Từ năm 1976 đến năm 1980, tôi có duyên lớn được theo thị giả Sư Bà tại chùa Ni Liên và chùa Linh Quang (Phú An – Đại Ninh). Năm năm thị giả ấy, giữa bối cảnh đất nước còn khó khăn trăm bề, là quãng thời gian quý báu và định hình sâu sắc căn tánh tu tập của tôi.
Sư Bà không chỉ dạy tôi giới luật nghiêm minh, mà còn truyền trao tâm nguyện nhập thất, hành trì và chuyển hóa nội tâm. Ngày ấy, chư Ni sống trong cảnh thiếu thốn, phải lao động để tự túc sinh kế – đổi công lấy từng phần gạo, bột mì, nước tương đạm bạc. Việc hành đạo cũng gặp nhiều trở ngại, cần giấy tạm trú, tạm vắng. Nhưng chính trong gian khó ấy, tôi học được thế nào là nội lực, là hạnh nhẫn nại, và là niềm tin bất hoại vào con đường giác ngộ.
Là người bản quán Đà Lạt, tôi thuận lợi hơn trong việc đi lại, được ở bên Sư Bà nhiều hơn – nghe từng lời dạy, theo từng bước chân, cảm được hơi thở chánh niệm và ánh nhìn từ bi nơi Người. Mỗi sớm khuya tĩnh lặng, bên khói hương trầm, tôi cảm nhận sự kết nối thiêng liêng giữa Thầy và trò – nơi đó, đạo tình được bồi đắp không bằng lời, mà bằng từng ngày sống, từng việc làm.
Cuối năm 1980, tôi theo chân Sư Bà về Sài Gòn, tham dự các lớp học Phật học tại chùa Liên Hoa. Tại đây, tôi được tiếp cận các bộ kinh trọng yếu như Luật Tứ Phần, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Duy Thức và Tứ Niệm Xứ, cùng hơn một trăm vị Ni sinh từ khắp nơi quy tụ. Tuy nhiên, đến năm 1984, lớp học buộc phải giải tán vì hoàn cảnh. Tôi lại tiếp tục cùng Sư Bà về chùa Linh Quang (Phú An), tiếp tục hành đạo, canh tác, và sống đời phạm hạnh.
Những điều giản đơn về một bậc Thầy…
Tôi có duyên được làm thị giả bên Sư Bà suốt năm năm.
Quãng thời gian ấy, có biết bao ký ức, bao kỷ niệm, nhưng tôi chỉ xin ghi lại những điều giản dị nhất — những gì đời thường mà sâu sắc, như chính cuộc đời hành đạo của Sư Bà.
Không phô trương, không sắc màu huyền ảo, Sư Bà hiện hữu như ánh sáng của ngọn đèn dầu trong đêm — âm thầm, nhưng ấm áp và dẫn lối.
Cảm nhận đạo vị từ hai quả cam
Một buổi chiều học bài xong, Sư Bà nhẹ nhàng bảo:
– Sáng mai không cần nấu gì, đã có đồ ăn sáng rồi con. Tôi nhìn quanh bếp, chẳng thấy gì ngoài sự vắng lặng.
Không gạo, không rau, không thức gì để chuẩn bị cho ngày mới.
Vậy mà Sư Bà vẫn điềm nhiên, không chút bận tâm. Sáng hôm sau, sau thời công phu khuya và chấp tác sớm, Sư Bà bảo tôi lên bàn Phật, lấy xuống hai quả cam.
Một cho tôi, một cho Sư Bà. Không nói gì thêm.
Sư Bà và tôi cùng ngồi ăn, không một lời thở than, không một câu trách móc nghèo khó,
Chỉ là hai quả cam – mà đủ cho một buổi sáng trọn vẹn. Tôi chợt hiểu, cái “đủ” không nằm ở số lượng,
Mà ở tâm biết đủ, ở lòng an nhiên.
Sư Bà dạy tôi đạo lý không qua lời giảng,
Mà bằng một buổi sáng tĩnh lặng từ hai quả cam. Giản dị là đạo.
Biết đủ là thiền.
An vui là Pháp.
Chắt Chiu Từng Hạt Tâm
Mỗi buổi chiều, sau khi học bài xong, tôi lại xách nước từ dưới sông lên, đổ vào lu để lau nhà, rửa chân. Còn nước giếng thì dành riêng để uống.
Sư Bà luôn cẩn thận và tiết kiệm từng giọt nước. Người múc một ít nước vào thau nhỏ để rửa mặt, sau đó lại chắt qua thau khác để rửa chân. Cuối cùng, phần nước ấy được đem tưới cây hoặc dội nhà vệ sinh.
Từng việc làm giản dị nhưng chất chứa biết bao bài học về sự trân quý những gì mình đang có.
Một Bụi Khoai, Một Niệm Từ
Sau năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn khó khăn. Người người rời bỏ phố thị, về vùng kinh tế mới. Dân Đà Lạt cũng theo xuống thôn Phú An Thiện Chí, bắt đầu lại từ những mái lá đơn sơ và ruộng đất chưa khai khẩn.
Sư Bà thương dân, xin tiền mua lại một sào trồng khoai mì đã tới mùa thu hoạch. Hễ ai đến xin, Sư Bà lại bảo tôi ra nhổ cho họ ba bốn bụi thôi, không được lấy nhiều, để còn chia sẻ cho người khác.
Lúc ấy, một miếng ăn nhỏ cũng quý như báu vật.
Giữa những tháng năm đói khổ, tôi học được rằng: cho đi, dù là một củ khoai nhỏ, cũng có thể làm dịu một cơn đói và sưởi ấm một tâm hồn…
Ngọt không từ vị – mà từ tâm
Những năm sau 1975, đời sống còn khó khăn, bột ngọt là món hàng xa xỉ, quý không khác gì vàng. Sư bà thường dặn: “Bột ngọt để dành cúng dường chư Tăng, quý sư cô các thất. Mình ăn rau củ, không cần đến vị ấy. Tâm thanh, vị cũng sẽ thanh.”
Tôi nghe lời, nhưng lòng vẫn còn nhiều vướng mắc. Trong thâm tâm của một người trẻ chưa hiểu hết đạo, tôi nghĩ: chỉ một chút bột ngọt thôi mà, có gì đâu… Thế là lén để dành một nhúm nhỏ, cất trong hũ gạo. Mỗi khi nấu, tôi cho vào một ít, chỉ để món canh đậm đà hơn.
Một hôm, sư bà dùng bữa, nhẹ nhàng nói: “Rau hôm nay ngọt, con nhỉ.”
Tôi cúi đầu, tim đập thình thịch. Không dám nhận mà cũng không dám chối.
Sư bà không hỏi thêm. Chỉ mỉm cười hiền hậu, như đã biết mà không vạch trần.
Sau này, sư bà thường nhắc:
“Ngọt chân thật không nằm trong vị. Cái ngọt nuôi dưỡng thân người chóng tan. Còn cái ngọt từ tâm là điều nuôi lớn tâm linh. Con đừng tìm vị ngon trong món ăn, hãy tìm sự an ổn trong từng hơi thở, từng niệm thiện.”
Tôi dạ, nhưng mãi đến nhiều năm sau mới thật sự hiểu. Cái ngọt tôi từng lén lút cất giữ năm xưa – là vị của sự thiếu đủ đầy trong hiểu biết. Còn cái ngọt sư bà truyền dạy – là vị của trí tuệ và từ tâm. Một vị nuôi cái miệng, một vị nuôi cả đời người.
Nay nhớ lại, thấy thương mình thuở ấy quá đỗi. Và cũng thương sư bà – người đã dạy tôi bằng cả lặng im.
Dưới Ánh Đèn, Bên Một Bậc Thầy
Sau thời công phu tối, Sư Bà bắt đầu dịch kinh, tôi lặng lẽ ngồi bên ghi lại từng lời dịch kinh của Sư Bà. Có những từ Hán chưa rõ, tôi tra tự điển Hán-Việt, nhờ vậy mà dần quen mặt một số chữ.
Lúc ấy, điện chưa kéo về thôn, chỉ le lói hai ngọn đèn dầu – một của Sư Bà, một của tôi. Thỉnh thoảng, Sư Bà nhẹ giọng hỏi:
- “Mấy giờ rồi con?”
Tôi ngẩng lên, nhìn đồng hồ:
- “Dạ, gần một giờ sáng rồi thầy ạ.” Sư Bà bảo:
- “Dịch nốt đoạn này rồi nghỉ.”
Có đêm kéo dài đến hai giờ sáng. Dịch xong, Sư Bà nhắc:
- “Thôi, đi ngủ đi ”
Tôi dạ, trải mùng mền, vừa nằm xuống đã chìm ngay vào giấc ngủ.
Tỉnh dậy giữa đêm, tôi thấy Sư Bà vẫn ngồi yên, dáng thiền trầm lặng trong ánh đèn leo lét. Người không ngủ. Tôi vội ngồi dậy, cùng nhập thiền.
Sống gần một bậc thầy luôn tỉnh thức, tôi cũng học được chút hương tinh tấn ấy.
Tiểu Sử Sư Bà
Sư Bà Hải Triều Âm là tấm gương sáng của một bậc Trưởng lão Ni, hết lòng tôn kính Phật – Pháp – Tăng, gặp bất cứ hình tượng Phật nào Sư Bà đều thành kính đảnh lễ. Tận tình học pháp, nghiên cứu pháp, truyền bá giáo pháp.
Sơ nét về Sư Bà Hải Triều Âm
Sư Bà sinh năm 1920 tại tỉnh Hòa Bình, Bắc Việt. Vì mang trong người 2 dòng máu Pháp-Việt, nên ngoài tên tiếng Việt là Nguyễn Thị Ni, còn được đặt tên tiếng Pháp là Eugénie Catallan. Thân phụ là cụ ông Etienne Catallan. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Đắc.
Lấy xong bằng tốt nghiệp Diplôme d’étude Primaire Supérieur, Sư Bà đi dạy học. Ngay khi còn tại gia, Sư Bà đã biểu lộ lòng từ bi. Ngày ngày dạy học, ngoài thời giờ Sư Bà vào các bệnh viện, trại mồ côi, dưỡng lão để giúp đỡ an ủi động viên những mảnh đời bất hạnh.
Sư Bà Hải Triều Âm một lòng lo cho đại chúng, từ tinh thần đến vật chất, hy sinh sức khỏe thời giờ, tận tình từ đời sống tạm thời đến rồi đi, tới đời sống đạo vị lợi ích vĩnh viễn trong kiếp tương lai.
Cơ duyên được biết Phật pháp là do Sư cụ Thích Tuệ Nhuận. Bài pháp đầu tiên được nghe Sư cụ giảng tại chùa Quán Sứ là kinh Lăng Nghiêm, phẩm Quán Âm Quảng Trần và chương Đại Thế Chí niệm Phật. Lãnh hội được sự vi diệu của Phật pháp đem lại niềm an vui cho mọi người, Sư Bà in những cuốn kinh nhỏ phát cho những Phật tử tới chùa tụng kinh hàng ngày.
Sư Bà quy y với Đại lão HT. Thích Mật Ứng, được ngài đặt pháp danh là Hải Triều Âm. Sư Bà thành lập gia đình Phật tử, mở các hội trưởng lão, thanh thiếu niên, nhi đồng ở Hà Nội, Hải Phòng. Ngoài ra Sư Bà còn viết báo cho tòa báo Bồ Đề của Sư cụ Thích Tuệ Nhuận, dưới bút hiệu là Cát Tường Lan. Các bài pháp rất thực tế, đưa Phật pháp vào tư tưởng thanh thiếu niên thời bấy giờ.
Năm 29 tuổi, thâm ngộ lẽ vô thường, dù phước thiện thế gian có hay đến đâu cũng không thể đưa đến giải thoát. Sư Bà xuất gia với Đại lão HT. Thích Đức Nhuận, ở chùa Đồng Đắc, Kim Sơn, Ninh Bình. Y chỉ và thọ giới với Sư cụ Tịnh Uyển, chùa Thanh Xuân, làng Phùng Khoang, Hà Nội. Đến năm 1954, vâng lời Hòa thượng di cư vào Nam, Sư bà nhập chúng ở chùa Dược Sư, Gia Định, Sài Gòn. Vừa lo tu học, vừa hầu mẹ già bị bệnh bán thân, vừa lãnh việc chuyên giảng dạy cho Phật tử. Sư bà tinh trì giới luật, nghe kinh Kim Cang lãnh ngộ được tông chỉ niệm Phật. Tu quán Tứ Niệm Xứ để khai tuệ giác tỉnh, sở đắc về bộ kinh Lăng Nghiêm để khai tri kiến Phật.
Sau khi thân mẫu qua đời, vì muốn báo hiếu công ơn mẹ, thấy rằng không gì bằng công đức tu hành, Sư bà nhập thất 5 năm ở chùa Vạn Đức, Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh, chuyên tâm niệm Phật. Sau chuyển lên Phú An, Đức Trọng, Lâm Đồng nhập thất 7 năm tại ngôi tịnh thất nhỏ Linh Quang, những mong nhập niệm Phật tam muội.
Sư bà khiêm cung, giản dị, từ hòa
Từ hoài bi nguyện độ sanh không bỏ, tại đây Sư bà bắt đầu độ chúng, lúc đó chỉ có vài chục người. Đến nay đã thành lập 8 chùa Ni Liên, Linh Quang, Liên Hoa, Viên Thông, Hương Sen, Dược Sư, Lăng Nghiêm, Bát Nhã. Đủ các căn cơ, già trẻ, lớn bé cho đến người tàn tật, trẻ mồ côi Sư bà đều đưa tay tế độ, mong họ được kết duyên với Phật pháp. Phật tử quy y thì không biết bao nhiêu mà kể.
Đối với đại chúng, Sư bà khiêm cung, giản dị, từ hòa. Nhưng nghiêm khắc đưa đại chúng vào khuôn khổ giới luật, nội quy. Sửa trị những xấu ác, nhưng bao dung những lỗi lầm chỉ cốt cho đại chúng thành những bậc pháp khí trong Phật pháp.
Sư bà một lòng lo cho đại chúng, từ tinh thần đến vật chất, hy sinh sức khỏe thời giờ, tận tình từ đời sống tạm thời đến rồi đi, tới đời sống đạo vị lợi ích vĩnh viễn trong kiếp tương lai. Suốt ngày trọn đêm không giờ phút nào Sư bà ngơi nghỉ trong bổn phận tự giác giác tha.
Lúc Sư bà ở chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, TP.HCM, học chúng đổ về học pháp rất nhiều. Sư bà đã biên soạn toát yếu lại những bộ kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, luật Tỳ-kheo-ni v.v… Lời văn giản dị, xác thực để học chúng dễ nắm được yếu chỉ của kinh luật. Mắt đeo kính, dưới ánh đèn dầu, Sư bà miệt mài đọc sách dịch kinh. Từng bộ kinh Hán văn dày cộm đầy những chữ với bộ óc tuổi già thật mỏi nhọc, Sư bà vẫn hết sức cố gắng cặm cụi dịch sang Việt ngữ để đàn hậu lai có sách học tập. Sư bà đã biên dịch, biên soạn, toát yếu gần 100 đầu sách…
Sư bà là tấm gương sáng của một bậc Trưởng lão Ni, hết lòng tôn kính Phật – Pháp – Tăng, gặp bất cứ hình tượng Phật nào Sư bà đều thành kính đảnh lễ. Tận tình học pháp, nghiên cứu pháp, truyền bá giáo pháp. Đối với Tăng Ni, Sư bà khiêm cung, kính trọng, luôn dạy hàng đệ tử suốt đời phải thực hành Bát kính pháp, sống lục hòa, trên kính dưới nhường, lấy Giới – Định – Tuệ làm sự nghiệp chính của mình, là nơi quy ngưỡng của nhiều người.
Sư bà Hải Triều Âm đã an nhiên thu thần thị tịch vào lúc 11 giờ 56 phút ngày 24-6-Quý Tỵ (nhằm ngày 31-7-2013) tại Chùa Dược Sư, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, trụ thế 94 năm, 60 năm tuổi đạo.
Mỗi chặng đường đi qua
Mỗi lần theo bước chân Sư Bà, tôi đều cảm thấy mình như một chiếc lá nhỏ được che chở bởi tàng cây đại thụ. Không chỉ được nuôi dạy trong giới luật và tu tập, tôi còn học được từ nơi Sư Bà một đời sống nội tâm sâu lắng, một lý tưởng phụng sự âm thầm và một tâm nguyện kiên định không gì lay chuyển. Hôm nay, nhìn lại những năm tháng đã qua, lòng tôi dâng đầy niềm tri ân và cảm niệm.
Nếu không có những năm tháng ấy, nếu không có sự hướng dẫn tận tâm của Sư Bà Hải Triều Âm, có lẽ tôi đã không thể vững bước trên con đường đạo hạnh cho đến hôm nay.
Nguyện xin thắp nén tâm hương, cúi đầu đảnh lễ Sư Bà – bậc Thầy khả kính đã khai mở cho tôi ánh sáng của con đường giải thoát.
Ni trưởng Thích Nữ Bảo Liên
Trụ trì chùa Thiện Mỹ, số 18 Đống Đa – Phường Xuân Hương – Đà Lạt, Lâm Đồng.


















































