Vì lòng đại bi, thương tưởng đến nỗi khổ của chúng sinh ở cõi Sa-bà, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã xuất hiện ở đời với tuyên ngôn: “Ta ra đời là để chỉ cho chúng sinh thấy sự khổ và con đường diệt khổ”. Khi Đức Phật nhập Niết-bàn, giáo pháp của Phật đã được các đệ tử truyền bá ra ngoài biên giới Ấn Độ cổ, tới các nước trong khu vực và các châu lục.
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam đã hơn 20 thế kỷ. Sự hiện hữu của đạo Phật trong lịch sử dân tộc là điều đã được khẳng định. Có thể thấy, các bậc cao Tăng thạc đức, các bậc Ni lưu ở mọi thời đại đều cố gắng xiển dương giáo lý, hoằng pháp lợi sinh.
Cuộc hành trình là đi từ đạo đức của mỗi con người. Đạo đức là thứ không thể cân đong, đo đếm như vật chất, nhưng không một giá trị nào của vật chất có thể so sánh được. Thiếu đạo đức thì không thể có con người lương thiện. Khi ấy, sẽ xuất hiện những kẻ tham lam, độc ác, gây nguy hiểm, đau khổ cho xã hội. Công tác hoằng pháp độ sinh và an sinh xã hội đã đóng góp công đức rất lớn trong việc canh tân xã hội, giữ gìn thuần phong mỹ tục, vãn hồi đạo đức cương duy, ngăn chặn cái xấu ác, khuyến phát mọi đức thuần lương, góp phần xóa đói giảm nghèo, làm cho an ninh – an sinh xã hội thêm bền vững.
Tư tưởng chủ yếu của đạo Phật là: Từ bi và Trí tuệ; Bình đẳng, Bác ái, hướng tới sự an lạc, hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam hay các dân tộc trên thế giới, từ mọi miền địa lý, sắc thái dân tộc, tùy duyên hay căn cơ, khả năng, điều kiện, đều có thể áp dụng giáo lý của đạo Phật vào trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của mình.
1. Những tấm gương chư Ni tiền bối hữu công
Đạo Phật không phân biệt đẳng cấp, không phân biệt giới, có lẽ vì vậy nên từ khi du nhập vào Việt Nam, nữ giới đã tham gia rất nhiệt thành, tạo ra nhiều thành quả trong công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước. Điển hình như thời Hai Bà Trưng1 có những vị nữ tướng xuất gia tu hành: Công chúa Bát Nàn2, Công chúa Thiều Hoa3, Sư bà Phương Dung4,… Thời loạn, các vị Ni tham gia cứu nước; khi đất nước hòa bình, họ lại khoác lên mình tấm áo nâu sòng giản dị, tĩnh tu tại cac chùa làng hay đô thị để hoằng pháp độ sinh. Kế thừa và phát huy truyền thống đạo hạnh của Ni giới và Phật tử Việt Nam, xuất hiện rất nhiều vị Trưởng lão Ni nghiên cứu Phật pháp uyên thâm, nghiêm trì Giới Luật, hành thiền đắc định, được môn đồ học chúng kính mộ.
Triều đại Lý – Trần, có những Ni sư đóng góp đặc biệt cho Phật giáo và Thiền học Việt Nam. Thời Lý có Ni sư Diệu Nhân. Thời Trần, Ni sư Tuệ Thông tu tập khổ hạnh, được vua Trần Nghệ Tông ban hiệu:”Tuệ Thông Đại sư”. Ngoài ra, còn những vị sư Ni hay nữ Phật tử cũng có công quả lớn như Hoàng hậu Lê Thị5, Nguyên phi Ỷ Lan6, Phụng Thánh Phu nhân7, Công chúa Huyền Trân8; Công chúa Thiên Thụy9; Công chúa Túc Trinh10, Công chúa Trần Thị Bạch Hoa11… Họ đều là những Thiền sư và Phật tử đã tu hành tại chùa hoặc tại gia, bằng hạnh nguyện, trí tuệ, công sức, tài sản mà gây dựng được nhiều công đức lớn lao, tạo dựng những công trình Phật giáo vĩ đại hoằng dương Phật pháp. Ngoài ra, còn có rất nhiều bậc Ni lưu ẩn mình tu hành trong những chốn am thanh cùng cốc. Tài liệu về các Ngài tản mát trong dân gian, vẫn có sự truyền thừa qua từng thế kỷ. Tại miền Bắc Việt Nam, nhiều vùng miền ở các tỉnh thành như Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ, Thái Bình, Quảng Ninh… có đền thờ, văn bản thư tịch cổ, thần tích, thần phả, bia ký ghi lại thành tích của các chư Ni sớm nhất trong những năm đầu thế kỷ và những thời kỳ tiếp theo của đất nước.
Thời Lê sơ, Phật giáo không còn phát triển và chiếm địa vị lớn, thống trị trên lĩnh vực tư tưởng như thời Lý – Trần. Đến triều đại nhà Mạc và Lê Trung hưng, Phật giáo hồi sinh và hưng thịnh, có Phu nhân Minh Nguyệt, người vợ thứ ba của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tu hành tại chùa Song Mai, thôn Lý Học, huyện Vĩnh Bảo; bà Ngô Thị Ngọc Dao tài đức vẹn toàn là mẹ của Vua Lê Thánh Tông, tu tại gia, ăn chay niệm Phật12; Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc – vợ Vua Lê Thần Tông13 nổi tiếng là một người uyên bác và sùng đạo Phật, thường chú tâm nghiên cứu bộ Kim Cương, là Phật tử tín tâm, được dân chúng xưng tụng là Bà chúa Kim Cương…
2. Ni giới Hải Phòng với công tác từ thiện xã hội, hoàng pháp độ sinh
Từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng được thành lập, phát huy truyền thống vẻ vang của các bậc Ni lưu tiền bối, thời kỳ cận – hiện đại, Ni giới thành phố Hải Phòng đã không ngừng thúc liễm thân tâm, trau dồi Tam Vô Lậu học, hoằng pháp độ sinh. Ni giới với tinh thần nhập thế đã truyền đạo vào đời bằng mọi phương diện, tùy theo thời thế. Rất nhiều Ni trưởng, Ni sư đã có công lao đóng góp cho sự hưng khởi phong trào tu tập, hộ quốc an dân. Quý Ni đã tham gia Giáo hội với nhiều cương vị khác nhau, vừa tích cực tham gia công tác xã hội, vừa tiếp độ Ni chúng, duy trì mạng mạch Phật pháp, trùng tu tôn tạo chùa cảnh, hướng dẫn Phật tử tu học theo Chính pháp, được các cấp Giáo hội và chính quyền, Mặt trận thành phố, địa phương tặng thưởng Bằng khen, Bằng Tuyên dương công đức. Tiêu biểu như: cố Ni trưởng Thích Tịnh Nguyệt (1925-1991) chùa Hải Ninh, phường Vĩnh Niệm, huyện An Dương; cố Ni trưởng Thích Đàm Y (1892-1994) chùa Lũng Tiên, phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An; cố Ni trưởng Thích Đàm Kiến (1913-1994) chùa Thiên Vũ, thôn Phù Lưu, xã Phù Ninh, huyện Thủy Nguyên; cố Ni trưởng Thích Đàm Y (1903-1998) chùa An Tất, thôn Chung Thanh Lang, xã An Thái, huyện An Lão; cố Ni trưởng Thích Đàm Đạo (1913-2022) chùa Hồng Phúc, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy; cố Ni trưởng Thích Diệu Tâm (1938-2017) chùa Hải Ninh, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân; cố Ni trưởng Thích Đàm Hằng (1930-1993) chùa Phổ Minh, số 295, phố Lê Lợi, quận Ngô Quyền; cố Ni trưởng Thích Đàm Quý (1930-1919) chùa Linh Quang (Cấm ngoài), phố Lê Lợi, quận Ngô Quyền; cố Ni trưởng Thích Đàm Thăng (1934-2002) chùa Nguyệt Quang, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng…
Thời chống Pháp, chống Mỹ, chư Ni Hải Phòng đã góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân dẹp giặc bảo vệ Tổ quốc, giải phóng đất nước. Một số Ni trưởng, Ni sư đã tham gia các phong trào cứu nước và nuôi giấu cán bộ như: cố Ni trưởng Thích Đàm Y, chùa An Tất, thôn Chung Thanh Lang, xã An Thái, huyện An Lão; cố Ni trưởng Thích Đàm Đạo, chùa Hồng Phúc, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy; cố Ni sư Thích Đàm Thư, chùa Vĩnh Khánh, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền… Có Ni sư đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến và bằng khen vì có thành tích kháng chiến như cố Ni sư Thích Đàm Hải, chùa Viên Minh, huyện Vĩnh Bảo; cố Ni trưởng Thích Đàm Thu, chùa Kim Liên, huyện Thủy Nguyên…
Ngoài ra, còn có nhiều nữ thanh niên xung phong trở về sau các cuộc chiến đã nương bóng cửa thiền, vượt qua nỗi đau thể xác và tinh thần mà chiến tranh để lại, vươn lên sống tốt đời đẹp đạo. Trong chiến tranh, các vị đã làm tròn bổn phận đối với Tổ quốc; đối với Phật giáo, các vị không ngừng khai đạo truyền giới, tiếp chúng độ Ni, giảng dạy Phật pháp, kiến tạo già lam…
Ngày nay, thực hiện phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ni giới Hải Phòng thực hiện tốt chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, pháp lệnh tín ngưỡng – tôn giáo và các quy định pháp quy. Tham gia xây dựng chính quyền, bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp, tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, Hội đồng nhân dân các cấp, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, Hội Chữ thập đỏ, Hội Người già cô đơn, trẻ tàn tật và mồ côi… Có rất nhiều Ni trưởng, Ni sư tiêu biểu được các cấp khen thưởng. Các vị đã nỗ lực phấn đấu, phát huy năng lực trong sự nghiệp hoằng dương Chính pháp, lợi lạc quần sinh.
Ni giới Hải Phòng luôn là tấm gương phản chiếu của hạnh Từ bi hỷ xả, lòng yêu thương, san sẻ với các nữ Phật tử, để lan tỏa, trưởng dưỡng căn thiện lành. Bởi vậy, quý Phật tử đều là những người gương mẫu trong gia đình và xã hội, để đưa đạo vào đời, xây dựng và duy trì đời sống tôn giáo từ trong tâm mỗi cá nhân tới gia đình, cộng đồng dân chúng quốc gia và nhân loại.
Đạo Phật là đạo cứu khổ ban vui. Nét đặc thù của đạo Phật là xây dựng tình thương, hạnh phúc cho mọi người với phương châm “phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật”. Trên tinh thần đóng góp một phần cho xã hội bớt đi những mảnh đời bất hạnh, Ni giới thành phố Hải Phòng đã tổ chức nhiều chương trình từ thiện, mang lại niềm vui, an lạc, hạnh phúc cho nhân sinh.
Công tác từ thiện được xem là một ưu điểm nổi bật. Ni giới Hải Phòng đã có những việc làm thiết thực và tích cực như xây nhà tình thương, nhà tình nghĩa, xây trường mầm non, làm cầu đường, tặng bò giống, các con vật giống nuôi nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững cho bà con nghèo. Tặng quỹ mổ mắt, tặng xe lăn cho trẻ khuyết tật, tặng xe đạp cho học sinh nghèo, cứu trợ đồng bào bị bão lũ thiên tai, tặng quà cho hộ nghèo trong các đại lễ Phật đản, mùa Vu lan báo hiếu, dịp Tết Nguyên đán, tặng quà cho các gia đình thương binh liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, phát học bổng, tặng sách giáo khoa cho các em học sinh, ủng hộ trẻ em nghèo vượt khó, tổ chức Tết Trung thu, giúp đỡ bệnh nhân nghèo, tham gia chương trình Quỹ vì người nghèo, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, người già neo đơn, nồi cháo tình thương hằng ngày cho trẻ mắc bệnh hiểm nghèo tại Bệnh viện Nhi Đức Hải Phòng… Các hoạt động từ thiện xã hội của Ni giới Hải Phòng được thực hiện đều đặn hằng năm tại địa phương và các tỉnh vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số với số tiền lên tới vài tỷ đồng mỗi năm.
Hoằng pháp luôn là hoài bão của các bậc Tôn đức Ni, cũng là nhiệm vụ cơ bản của người xuất gia học Phật, luôn luôn thực hiện câu “Hoằng pháp vi gia vụ – lợi sinh vi sự nghiệp”. Một số Ni đã tham gia giảng dạy tại Trường Trung – Cao đẳng Phật học thành phố Hải Phòng như: cố Ni trưởng Thích Diệu Tâm, Ni sư Thích Tâm Chính, Ni sư Thích Đàm Kiên. Phân ban Hoằng pháp Ni đã kết hợp với các chùa tại các quận, huyện tổ chức Đạo tràng Bát Quan Trai, Đạo tràng Chú Đại Bi, khóa tu niệm Phật, khóa tu Một Ngày An Lạc… Hoạt động này được duy trì đều đặn ở các chùa như chùa Vẽ (Hoa Linh Cổ tự), chùa Kim Quang (quận Hải An), chùa Vân Quan, chùa Khánh Long (quận Dương Kinh), chùa Lũng Tiên, chùa Đại Giác, chùa Tây Sơn (quận Kiến An); chùa Hàm Long, chùa Minh Tường, chùa Kiến Linh, chùa Quán Âm – chùa Ruỗi (huyện Thủy Nguyên)… Hiện nay, chư Ni thành phố Hải Phòng đã tổ chức được 21 đạo tràng thường xuyên sinh hoạt tại các chùa trong khắp các quận huyện, mỗi khóa tu có từ 50-300 Phật tử tham dự. Song song đó, các chùa còn mở các đàn truyền Tam Quy – Ngũ Giới và cấp giấy chứng nhận cho quý Phật tử. Ngoài ra, mùa hè, các chùa Ni còn tổ chức khóa tu mùa hè cho các bạn trẻ. Chỉ tính riêng năm 2023 đã có 18 chùa Ni tổ chức khóa tu mùa hè cho thanh thiếu niên với 23 khóa tu. Điển hình như chùa Vẽ năm 2023 đã tổ chức 6 khóa tu cho hơn 3.000 bạn trẻ ở các độ tuổi từ mầm non đến đại học. Hiện nay, các khóa tu mùa h蔂Bồ Đề Tâm” tại Chùa Vẽ có số lượng học sinh tham dự đông nhất, quy mô lớn nhất so với các chùa tổ chức khóa tu mùa hè trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Khóa tu “Bồ Đề Tâm” lần thứ nhất (2011), chỉ có gần 300 em tham dự. Khóa tu lần hai, năm 2012, có 320 khóa sinh tu tập trong 7 ngày. Đến năm 2018, đã tổ chức khóa thứ 8 với số lượng trên 800 khóa sinh. Năm 2019, tổng 4 khóa tu, với 1.620 khóa sinh. Năm 2023, tổng 6 khóa tu, với hơn 3.000 khóa sinh tham dự. Ngoài các khóa tu mùa hè, nhà chùa còn tổ chức khóa tu một ngày cho các trường mầm non… Trong các khóa tu, chư Ni đều tham gia thuyết giảng như: Ni sư Thích Tâm Chính, Sư cô Thích Giới Định, Sư cô Thích Diệu Hướng, Sư cô Thích Hạnh Như, Sư cô Thích Tịnh Thắm, Sư cô Thích Tịnh Chi, Sư cô Thích Diệu Giang, Sư cô Thích Diệu Quỳnh, Sư cô Thích Bảo Việt…
Những việc làm từ thiện xã hội trên nền tảng hoằng dương Phật pháp mang lại ý nghĩa rất hữu ích và thiết thực, được các bậc phụ huynh và người dân đánh giá cao. Các khóa tu cho thanh thiếu niên, học sinh – sinh viên là cơ hội quý báu góp phần xây dựng, tạo nên những nét đẹp trong tâm hồn học sinh, sinh viên và các cháu thanh thiếu niên, là nền tảng vững chắc cho các em trong tương lai khi phải đối diện với cuộc sống có quá nhiều phức tạp, bất an.
Trong các khóa tu, những bài giảng của quý Ni đã giúp các em có cơ hội học hỏi, giao lưu phát triển tài năng, trở thành con người hoàn thiện, tài đức vẹn toàn. Mục đích là tạo cho các em một sân chơi bổ ích, để các em nuôi dưỡng tâm từ bi, hỷ xả, hạnh lắng nghe, đồng thời tạo những thuận duyên cho các em được giao lưu chia sẻ, tiếp cận kỹ năng sống, để các em hiểu biết, có hiếu nghĩa với ông bà, cha mẹ, biết nghe lời thầy cô học tập chăm ngoan, có tình yêu thương chia sẻ với mọi người, nhằm hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, tư duy tích cực, nghĩ điều thiện, nói điều thiện, làm việc thiện, đem lại ý nghĩa thiết thực cho tự thân mỗi em tham dự khóa tu. Từ đó nhân rộng ra làm lợi ích cho cộng đồng và xã hội, các em sẽ gặt hái được nhiều thành công tốt đẹp trong hiện tại và tương lai.
Công tác từ thiện xã hội và hoằng pháp vẫn cần phải có những chính sách, biện pháp cụ thể để nâng cao vị thế của Ni giới Việt Nam, tạo điều kiện phát huy “tiềm năng Ni giới” trong lĩnh vực xã hội, từ thiện thời gian tới. Hoạt động từ thiện xã hội trên nền tảng hoằng pháp của Phật giáo Việt Nam nói chung và Ni giới Hải Phòng nói riêng, cần được tổ chức mang tính hệ thống. Cần có cơ chế hoạt động và giám sát, hỗ trợ vật chất từ trên xuống dưới, đối với nhiều mảng từ thiện trên những nền tảng hoằng pháp khác nhau. Thông qua việc tổ chức mang tính hệ thống những cơ sở xã hội này, cùng với sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các cơ quan chức năng, hoạt động của chư Ni Hải Phòng chắc chắn sẽ duy trì được lâu dài, hiệu quả, phát huy năng lực, dấn thân phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.
Với những mô hình hoạt động hiệu quả, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phân ban Ni giới Trung ương, Phân ban Ni giới thành phố Hải Phòng, các cơ quan chức năng cần có sự biểu dương kịp thời những cá nhân, tập thể điển hình, nhân rộng trên toàn quốc, đặc biệt ở các địa phương vùng sâu vùng xa, vùng nông thôn nghèo. Nên chăng, Ban Từ thiện xã hội của Phân ban Ni giới các cấp thành lập nhiều hơn nữa những tổ, nhóm, tình nguyện viên bao gồm các vị Ni trẻ, Phật tử tâm huyết, sẵn sàng đi hỗ trợ, giúp đỡ bà con nghèo, đặc biệt là ở các vùng thường xuyên bị thiên tai, lũ lụt tàn phá, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào nghèo, vùng dân tộc thiểu số nơi biên giới, hoặc các đối tượng xã hội cần được giúp đỡ.
Tuy nhiên, gắn kết hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo nói chung, Phân ban Ni giới Trung ương và Phân ban Ni giới Hải Phòng nói riêng với những vấn đề xã hội ở Việt Nam hiện nay là điều không đơn giản, đòi hỏi phải có sự quản lý của Giáo hội, sự kết hợp giữa nhiều cơ quan, ban ngành với các chùa, giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam với Giáo hội Phật giáo các nước ASEAN.
Kết luận
Từ thiện xã hội trên nền tảng hoằng pháp cho thấy vai trò tích cực của Ni giới Phật giáo Hải Phòng. Hy vọng rằng những chương trình từ thiện – an sinh xã hội trên nền tảng hoằng pháp của Phân ban Ni giới Trung ương nói chung và các cơ sở của chư Ni thuộc Phân ban Ni giới Hải Phòng nói riêng sẽ ngày càng tỏa sáng trong lòng dân tộc trên bước đường hội nhập khu vực và thế giới, đem lại hiệu quả thiết thực và lâu bền cho công tác từ thiện và các đối tượng xã hội cần được quan tâm, chia sẻ, hỗ trợ. Để phát huy thật tốt những gì đã đạt được, Ni giới Hải Phòng cần duy trì tinh thần đoàn kết, giữ gìn giới hạnh trang nghiêm, phát huy sức mạnh tập thể và thực hiện tốt công tác Phật sự do Giáo hội giao phó, đồng lòng xây dựng nếp sống thiền gia, đời sống văn minh lành mạnh, thực hiện lời dạy của Đức Phật.
NS. Thích Tâm Chính
- Theo tư liệu của Hòa thượng Thích Trí Quảng, tác giả Phương Bối đã tổng hợp 8 vị Tỳ-kheo-ni “đặc biệt” nhất ở thời Hai Bà Trưng
- Ở chùa Tiên La, Thái Bình còn ghi chép việc Công chúa Bát Nàn được các thiền sư chùa Tiên La đón nhận. Với sự giúp đỡ của các vị, bà dần dần tu tập và trấn tĩnh, sau đó còn huấn luyện võ thuật, giúp các sư bảo vệ chùa khỏi giặc Hán…
- Tương truyền, sau khi giúp Hai Bà Trưng đánh tan giặc Hán, bà được Trưng Vương phong làm Đông Cung Công chúa, nhưng bà không nhận quan chức ở triều đình: “Kẻ hạ thần vốn là người con gái đang nguyện chốn tu hành, nên chức trọng quyền cao nào có ích gì, nếu bệ hạ nghĩ tới công lao mà ban thưởng thì xin bệ hạ gia ân cho hạ thần được thực ấp tại bản địa nơi tu hành là đủ”.
- Thần phả chùa Yên Phú, huyện Thanh Trì, Hà Nội cho biết, đã từng có ngôi chùa Phật từ trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Sư bà Phương Dung đã tu ở đó, càng gia cố cho những luận cứ về việc đạo Phật du nhập sớm (trước Công nguyên).
- Hoàng hậu Lê Thị – tên Phất Ngân, là vợ Vua Lý Thái Tổ, có công giúp dân tu bổ, xây dựng nhiều ngôi chùa để tu hành và trông coi lăng mộ Vua cha Lê Đại Hành.
- Hoàng Thái hậu Ỷ Lan là người sùng đạo Phật, và là “người tu tại gia”. Khi về già, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan càng để tâm làm việc thiện, xây chùa và nghiên cứu về đạo Phật. Bà đã cho xây cất 150 chùa, đền. Hiện một số vẫn còn như chùa Dạm, 1086 (Quế Võ, Bắc Ninh); chùa Một Mái ở Hoàng Xá, 1099 (Quốc Oai, Hà Nội); chùa Phật Tích, 1100 (Tiên Sơn, Bắc Ninh); chùa Báo Ân, 1057 (Động Sơn, Thanh Hóa); tháp Chương Sơn, 1108 (Ý Yên, Nam Định); tại hương Siêu Loại vào năm 1115, bà cho xây dựng Linh Nhân Tư Phúc tự hay còn gọi là chùa Bà Tấm.
- Phụng Thánh Phu nhân lúc còn ở kinh đô, danh vọng và thế lực sánh với bậc đế vương. Năm 1145, sau 8 năm hương khói, chăm sóc lăng mộ Lý Thần Tông, bà xin về hương Tuế Phong để chọn đất dựng chùa, tu hành. Vua Lý Anh Tông đã ra sắc chỉ đặc ân cấp cho nhân công, gỗ ngói để dựng chùa, đó chính là chùa Diên Linh Phúc Thánh.
- Theo thần tích lưu tại đền thờ, sau khi bà trở về Thăng Long thì xuất gia ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh). Công chúa thọ Bồ-tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng. Năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng đến Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành, là chùa Hổ Sơn, hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự
- Thần tích đền chùa Mõ huyện Kiến Thụy, Hải Phòng, ghi chép: Công chúa Thiên Thụy đến mảnh đất ven sông Văn Úc lập am tu hành. Thần tích đền Mõ có ghi, ngày 12 tháng 2 năm Giáp Thân 1284, công chúa làm lễ Khánh hạ, tự xưng đạo hiệu là Đại uy Thiên Thính. Công chúa Thiên Thụy đã mở rộng việc khai khẩn ruộng vườn, cấp phát tiền tài cho nhiều người cày cấy, mở chợ, quy tụ dân chúng trong vùng đến làm ăn sinh sống, hình thành nên trang Nghi Dương ngày càng trù phú.
- Theo thần tích Kẻ Noi, Công chúa Túc Trinh, con thứ của Vua Trần Thánh Tông, đem tiền bạc về vùng Kẻ Noi (nay thuộc Bắc Từ Liêm, Hà Nội) cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, lập xóm, tạo nên trù phú; công chúa còn cho dựng chùa Anh Linh, ngày đêm chăm lo Phật đạo, giáo hóa chúng sinh.
- Khi Nhà Hồ tiếm ngôi, Công chúa Trần Thị Bạch Hoa là chị gái của Thái tử Trần Án, chọn núi Bồ Đà, xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam cho dựng một thảo am lập đàn thờ Phật, lấy pháp danh là “Thu Thu thiền sư”.
- Bà thường về ở Đông Triều, ăn chay niệm Phật, sáng suốt, khỏe mạnh, sống lâu rất là vui vẻ, lấy kiệm cần mà răn dạy người đời, lấy nhân hậu mà nhắc nhở vua.
- Bà đảnh lễ quy y tại Ninh Phúc tự, còn gọi là chùa Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Kinh Bắc; được thiền sư Chuyết Chuyết ban pháp danh là Pháp Tánh (法性). Bà vừa tu luyện vừa học hỏi nghiên cứu sâu xa thêm về kinh điển của nhà Phật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
” ‚Tám vị Tỳ-kheo-ni “đặc biệt” nhất ở thời Hai Bà Trưng là ai?”‛, https://phatgiao.org.vn/8-vi-ty-kheo-ni-dac-biet-nhat-o-thoi-hai-ba-trung-la-ai-d9871.html.
2.”Đền Bà Chúa thờ Công chúa Túc Trinh ở Bắc Từ Liêm, Hà Nội”, https://vanhoatamlinh.com/den-ba-chua-tho-cong-chua-tuc-trinh-o-bac-tu-liem-ha-noi/.
3. Vũ Quỳnh, Kiều Phú (1960), Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.


















































