Ni đoàn được thành lập ở Ấn Độ từ thời Đức Phật còn tại thế và sau đó đã lan truyền sang một số quốc gia khác như Tích Lan, Miến Điện… Việt Nam cũng là một trong số không nhiều quốc gia ở châu Á có một Ni đoàn Phật giáo phát triển khá mạnh. Sự thành lập và phát triển của Ni đoàn Phật giáo ở Việt Nam thế kỷ XX (khi mới thành lập năm 1956 được gọi là Ni bộ Nam Việt, từ năm 1972 về sau được gọi là Ni bộ Bắc Tông) phải trải qua nhiều khó khăn, và đã có thể thành tựu là nhờ công lao to lớn của một nhân vật nữ tu sĩ kiệt xuất: Sư trưởng Như Thanh. Bài viết sau đây tìm hiểu về vai trò của Sư trưởng Như Thanh với sự thành lập của Ni bộ Nam Việt.
Nguồn gốc Ni đoàn Phật giáo Việt Nam
Ni đoàn Phật giáo Việt Nam được thành lập từ khá sớm. Theo tư liệu lịch sử Việt Nam, Tỳ kheo Ni Phổ Minh là người đặt nền móng cho sự thành lập của Ni đoàn Phật giáo Việt Nam1, Phổ Minh là con gái của Trương Mục, Thứ sử đất Giao Châu (thế kỷ IV-V). Bà theo học Phật từ thầy Dharmayasa một Tăng sĩ Phật giáo người Kashmir đã đến Canton, miền Nam Trung Hoa trong thời kỳ của Lung – an (397-401) để thuyết pháp. Ông đã thu hút và cải đạo cho nhiều người ở mảnh đất này. Về sau, Phổ Minh trở thành một nữ tu sĩ Phật giáo tài giỏi. Khả năng thuyết pháp của bà đã thu hút được nhiều phụ nữ đến với Phật giáo. Bà là người đặt nền móng cho sự thành lập của Ni đoàn ở Việt Nam2.
Phật giáo Việt Nam nói chung. Ni giới nói riêng, luôn đồng hành cùng số phận thăng trầm của dân tộc, lúc thịnh lúc suy. Sau những thời kỳ vàng son rực rỡ của các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, đến cuối thời nhà Nguyễn, Phật giáo bắt đầu suy yếu. Trong 100 năm Pháp thuộc (1854 – 1954), Phật giáo Việt Nam bắt đầu bị biến thể, bị quần chúng dân gian hiểu như một loại thần giáo. Đa số chùa chiền chỉ còn hình thức thờ cúng lễ bái, nhiễm đầy mê tín dị đoan. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XX, Phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu phát triển ở Việt Nam. Từ những năm đầu thế kỷ XX, những nhà cải cách Phật giáo Việt Nam đã đem lại sức sống mới cho Phật giáo. Sư trưởng Như Thanh là người được sinh ra trong bối cảnh của sự phục hưng Phật giáo và đã góp phần lớn vào sự phục hưng ấy ở thế kỷ XX.
Vai trò của Sư trưởng Như Thanh đối với sự hình thành của Ni bộ Nam Việt
Sư trưởng Như Thanh, thế danh là Nguyễn Thị Thao, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1911 tại làng Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Sư trưởng là đệ tử Sư tổ Pháp Ân chùa Phước Tường, thuộc dòng Thiền Lâm Tế Gia Phổ, đời thứ 40. Sư trưởng là con gái của Tri huyện Nguyễn Minh Giác, một nhà Nho – Y nổi tiếng đương thời và cũng là người am hiểu về Phật pháp. Mẹ Sư trưởng là bà Đỗ Thị Gần, một người hiền hậu đảm đang, và là người rất tôn kính Phật pháp. Sư trưởng là con thứ 8 trong một gia đình có 10 người con. Khi còn nhỏ, Sư trưởng được học chữ Hán và cũng có thời gian theo học chương trình của chế độ Pháp. Tuy nhiên, do không thích Tây học nên Sư trưởng bỏ học trở về nhà học Hán văn và nghiên cứu giáo lý của đạo Phật với sự hướng dẫn của cha.
Vào năm 1932, ở tuổi 22, được sự đồng ý của cha, cô gái Nguyễn Thị Thao đã xuất gia và tu học tại chùa Giác Hoàng, nơi có lớp An cư ba tháng cho cả Tăng và Ni. Đây là nơi có lớp An cư cho Ni giới đầu tiên ở miền Nam Việt Nam.
Sư trưởng Như Thanh là một người ham học và tranh thủ mọi cơ hội để học tập, nâng cao tri thức. Trong thời gian từ năm 1933 đến năm 1942, Sư trưởng đã cầu học tại nhiều nơi như chùa Giác Hoàng (Bến Tre), chùa Thiên Bửu, Thiên Phước (TP. Hồ Chí Minh), chùa Diệu Đức (Huế), một số chùa ở Hà Đông (Hà Nội), chùa Trấn Quốc (Hà Nội), chùa Giải Oan (Yên Tử, Quảng Ninh), chùa Thập Tháp (Bình Định3).
Năm 1935. Sư trưởng cùng các Sư cụ Diệu Tịnh, Diệu Tần, Diệu Thuận xây dựng chùa Từ Hóa dành cho Ni giới tại làng Tân Sơn Nhì, Bà Quẹo, Gia Định (nay là Hải Ấn Tự, TP. Hồ Chí Minh4). Đây là chùa Ni đầu tiên do chư Ni tạo dựng ở Sài Gòn. Cũng trong năm đó, Sư trưởng vâng lệnh Sư tổ Pháp Ấn từ giã huynh đệ chùa Từ Hóa về nhận chùa Hội Sơn, xã Long Bình, quận Thủ Đức, Sài Gòn. Tại đây, Sư trưởng hóa độ một số Ni chúng. Giới trí thức ở địa phương rất mến phục thường đến chùa đàm đạo cùng với Sư trưởng.
Đầu năm 1942, ở tuổi 32, sau khi đi nhiều nơi cầu học, Sự trưởng tự thấy đã đến lúc cần phải đứng ra gánh vác Phật sự Sư trưởng đã trở lại chùa Hội Sơn, Thủ Đức, Sài Gòn và bắt đầu mở lớp dạy Luật cho Ni giới. Tại đây, chư Ni từ các nơi như Nha Trang, Mỹ Tho,… về học khá đông.
Năm 1945, Sư trưởng được mời làm Trụ trì chùa Huê Lâm, Sài Gòn. Sư trưởng đã sửa sang, tu bổ chùa Huê Lâm và xây dựng khu nội trú cho chư Ni có chỗ tu học. Tại đây, Sư trưởng mở Phật học Ni viện vào năm 1947. Năm 1948, Sư trưởng mở thêm nhiều trường đào tạo Ni chúng ở các chùa Linh Sơn (quận 8, Sài Gòn), chùa Giác Thiên (Vĩnh Long). Chùa Tân Hiệp (Mỹ Tho5).
Trong suốt cuộc đời sống và hành đạo gần một thế kỷ của Sư trưởng, người đã có đóng góp to lớn trong việc xây dựng tu bổ các ngôi chùa Phật giáo. Người đã góp phần xây dựng và tu bổ trên dưới 10 ngôi chùa Phật giáo từ TP. Hồ Chí Minh cho đến Bà Rịa – Vũng Tàu. Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng và tu bổ chùa chiền, Sư trưởng còn cho xây dựng trường học từ thiện. Trường Tiểu học Kiều Đàm được xây dựng vào năm 1952 tại chùa Huê Lâm để dạy bổ túc văn hóa cho chư Ni và để giúp đỡ trẻ em nghèo hiếu học là một ví dụ. Đây là lần đầu tiên chùa Nỉ mở trường học thế tục, mở đường cho chư Ni mở trường học và tham gia công tác từ thiện xã hội tích cực ở giai đoạn sau6.
Tuy nhiên, nhớ đến Sư trưởng Như Thanh trước hết là nhớ đến đóng góp to lớn của Người trong việc thống nhất, phát triển Ni bộ. Năm 1956, Sư trưởng nhận thấy trong hàng Ni chúng có nhiều vị có tài, có đức, nhiệt tâm vì đạo nên Sư trưởng muốn nâng đỡ những vị ấy và kêu gọi Ni chúng đoàn kết thành một thể thống nhất. Khi Giáo hội Tăng già Nam Việt được thành lập, Sư trưởng bày tỏ ý nguyện thống nhất Ni bộ và được chư Tôn đức trong Giáo hội ủng hộ. Sư trưởng đã mạnh dạn đứng ra nhận trách nhiệm kêu gọi Ni chúng hóa hợp đoàn kết thành một sức mạnh tổng hợp. Để thực hiện được công việc này, Sư trưởng đã đích thân đi khắp các chùa Ni trải dài từ miền Nam ra đến miền Trung. Trong nhiều năm, Sư trưởng đã âm thầm, kiên nhẫn, lặn lội đi tìm kiếm gặp gỡ những người cùng chung chí nguyện, từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho, Cai Lậy, Sa Đéc, Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau, Châu Đốc,… Đi đến đâu, Sư trưởng cũng vận động cho tương lai thống nhất và đoàn kết của Ni chúng. Người nói: “Nếu chị em chúng ta không đoàn kết lại để cứ rời rạc mãi thì chẳng khác chi những đứa con không cha mẹ, anh chị, bơ vơ giữa biển đời sóng gió, tự mình đã bỏ rơi mình ra ngoài đoàn thể vậy7.” Đây là thời điểm mở đầu cho thời kỳ thống nhất Ni bộ của Phật giáo Việt Nam.
(Còn tiếp)
TS. Lê Thị Hằng Nga – TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh {ĐSHĐ-149}
- Thích Nữ Như Nguyệt (2005), Origin and Development of Bhikhuni Sangha in Vietnam, Luận án Tiến sĩ Phật học, Đại học Delhi, Ấn Độ.
- Sđd.
- Giác Ngô online, Tiểu sử Sư trưởng Như Thanh, https:/giacngo va/PrintView. aspx?Language vi&ID=7FC650 truy cập ngày 15/8/2018.
- PGS.TS. Trần Hồng Liên, Ni trưởng Như Thanh với sự hình thành và phát triển Ni bộ Nam Việt, http://vncphathoc.com/bai-nghien-cuu/ni-truong-nhu-thanh-voi-se hinh-thanh-va-phat-trien-ni-bo-nam-viet/ truy cập ngày 17/8/2018.
- Giác Ngộ online, Tiểu sử Sư trưởng Như Thanh, https:/giacngo.vn/Print Vice aspx?Language=vi&ID=7FC650 truy cập ngày 15/8/2018.
- Sđd.
- Thích Nữ Như Nguyệt, Bhiksuni Nhu Thanh: A polar Star among Vietnamese Nunt. in trong Karma Lekshe Tsomo (2014), Eminent Buddhist Women, NXB. Suny, Hoa Kỳ


















































