Dẫn nhập
Cho đến nay, do từ các tiếp cận khác nhau, vẫn còn nhiều ý kiến chưa nhất trí về việc Đức Phật quyết định thành lập Ni đoàn Phật giáo với Bát Kính Pháp1 như điều kiện tiên quyết. Song từ tiếp cận Bình đẳng giới để phân tích tính nhất quán từ triết học Phật giáo (Tính Không, Vô thường, Vô ngã; Nhận thức luận hướng nội, vô chấp, vô trụ; và Giải thoát luận giảm/ giải/giảm thần quyền) đến bình đẳng giới trong giới luật dành cho Tỳ kheo Ni, đặc biệt là Bát Kính Pháp sẽ thấy rõ hơn quan điểm bình đẳng giới của Đức Phật khi đưa ra Bát Kính Pháp và 348 giới luật đối với Tỳ kheo Ni thực sự có ý nghĩa cách mạng vô cùng lớn lao đối với lịch sử văn minh xã hội Ấn Độ cổ đại (thế kỷ VI TCN), và hôm nay vẫn có giá trị nhất định.
1. Khái niệm “Bình đẳng giới”
Bình đẳng giới (gender equality) là thuật ngữ xuất hiện muộn hơn thuật ngữ Bình đẳng nam-nữ (male-female equality/ equality between men and women).
Bình đẳng là quyền cơ bản có tính khách quan, toàn nhân loại. Theo đó mọi người đều có quyền, trách nhiệm và cơ hội như nhau. Như đã nêu trong “Điều 2” của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền: “Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.” Theo đó, Bình đẳng giới có nghĩa là không có sự khác biệt trong cách đối xử giữa nam, nữ và giữa các giới, và quyền, trách nhiệm cũng như cơ hội của cá nhân sẽ không phụ thuộc vào việc họ là nam hay nữ hay thuộc về giới nào. Tuy nhiên, Bình đẳng giới và Bình đẳng nam – nữ là hai thuật ngữ không hoàn toàn đồng nhất. Điểm chung của hai thuật ngữ này là đều khẳng định sự bình đẳng về quyền, cơ hội và trách nhiệm của mọi người không phụ thuộc vào giới tính. Điểm kác biệt của Bình đẳng giới là chú ý hơn về sự đa dạng của các nhóm giới (nam, nữ, tuổi tác, sức khỏe, mầu da…) khác nhau, trên cở đó tính đến nhu cầu, sở thích, thế mạnh, hạn chế, rào cản… để có sự ưu tiên hợp lý cho mỗi giới. Theo đó, Bình đẳng giới có nội hàm rộng hơn về các loại giới cũng như cụ thể hơn về năng lực, phẩm chất và xuất phát điểm so với Bình đẳng nam nữ. Hiện nay, Bình đẳng giới đã trở thành quyền phổ quát, mang tính chuẩn mực và ràng buộc các quốc gia thành viên Liên hợp quốc (LHQ) có nghĩa vụ xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử, hạ thấp giá trị và hạn chế thành công đối với phụ nữ.
Bên cạnh Bình đẳng giới còn thuật ngữ Công bằng giới (gender equity). Bình đẳng giới và Công bằng giới là từ đồng nghĩa, nhưng chúng khác biệt ở chỗ: Công bằng mang tính chủ quan, là phương tiện để đạt được Bình đẳng một cách hiệu quả và phát huy được tác dụng của bình đẳng; Bình đẳng là mục tiêu, là lý tưởng cần đạt được, Công bằng là phương tiện hoặc quy trình tạo điều kiện để đạt được Bình đẳng. Bình đẳng tuyệt đối là khi các biện pháp thực hiện Công bằng trở nên không còn cần thiết!
Như vậy, Công bằng không phải là đối xử với mọi người theo cùng một cách, mà là xem xét đến hoàn cảnh cá nhân cụ thể để có thể khắc phục được bất lợi, sao cho mọi giới đều có thể cùng phát huy được thế mạnh một cách bình đẳng. Công bằng giới thừa nhận rằng phụ nữ và nam giới có những nhu cầu, lợi thế cũng như hạn chế/ bất lợi và hoàn cảnh khác nhau, từ đó hướng đến việc cung cấp các nguồn lực và cơ hội giải quyết những nhu cầu đó sao cho công bằng chứ không phải cào bằng, chia đều. Nói cách khác, Công bằng giới là một sự đảm bảo cho tất cả mọi người, thuộc các giới khác nhau, đều có quyền lợi và trách nhiệm, nhưng phù hợp theo nhu cầu cá nhân (với cả lợi thế và hạn chế) của họ.
Nền tảng của Bình đẳng và Công bằng chính là những nội dung về Nhân quyền đã được khẳng định trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948)2. Đây là sự tiến bộ của văn minh nhân loại ở thế kỷ XX, song nội hàm nhân quyền và bình đẳng giới đã được Đức Phật đề cập đến bằng ngôn ngữ Phật giáo (của Ấn Độ cổ) khi xây dựng tư tưởng nền tảng cho triết lý giải thoát của Phật giáo cũng như khi đưa ra những quy định giới luật hay Bát Kính Pháp cho sự ra đời Tỳ kheo Ni.
2. Cơ sở triết học Phật giáo để xây dựng giới luật cho Tỳ kheo Ni
Đối với vấn đề bất bình đẳng của xã hội Ấn Độ cổ, vào thế kỷ VI TCN, giáo lý Phật giáo thực sự có ý nghĩa như một cuộc cách mạng triệt để chống lại các quy định thần quyền bất bình đẳng vô cùng hà khắc của Bà La Môn giáo. Tứ Diệu Đế của Phật giáo đã phản bác sạch trơn thuyết 5 đẳng cấp của Bà La Môn giáo, với đẳng cấp Bà La Môn thần thánh cao nhất, còn đẳng cấp Thủ đà la, Chiên đà la (Đa lít) và phụ nữ không được coi như con người.
Cụ thể là: Khổ Đế đã chứng minh bằng thuyết Duyên khởi, Ngũ uẩn rằng tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau về bản chất Vô ngã, đều chịu sự quy định của luật Vô thường, đều đau khổ bởi luật Nhân – quả, Nghiệp báo… nên đều mong muốn được thoát luân hồi khổ đau như nhau. Điều mới mẻ là Phật giáo khẳng định tất cả đều vốn có khả năng tu học, hướng thiện, muốn trau dồi đạo đức, trí tuệ và tìm kiếm giác ngộ, giải thoát như nhau. Khổ Đế đã phản bác triệt để thuyết đẳng cấp Bà La Môn thần thánh. Từ đây mở ra quan điểm bình đẳng về niềm tin tôn giáo cho tất cả các đẳng cấp, đặc biệt giải phóng niềm tin tôn giáo cho những đẳng cấp thấp nhất (Thủ đà la, Chiên đà la, và phụ nữ) ở Ấn Độ cổ. Họ có quyền bình đẳng về niềm tin tôn giáo, bình đẳng về khả năng tu dưỡng và đạt tới giác ngộ, giải thoát không khác gì nam giới và đẳng cấp Bà La Môn; Tập Đế đã phân tích rõ nguyên nhân sâu xa của mọi khổ đau và logic vận hành của luật nhân quả (Thập Nhị Nhân Duyên), nghiệp báo có tính khách quan, giúp con người hiểu mọi khổ đau đều có nhân-quả, và đều do chính mỗi người tạo nên khổ đau hay may mắn cho chính mình bằng thân, khẩu, ý mà mình đã tạo; Diệt Đế cũng phản bác bất bình đẳng thần quyền của Bà La Môn giáo, khi phân tích rõ ai cũng có thể tự đi, tự đến và tự giác ngộ và đạt giải thoát một cách bình đẳng, khả thi, và hoàn toàn không bị quyết định bởi xuất thân nam hay nữ hay thuộc đẳng cấp nào và cũng không cần nhờ siêu nhân, thần thánh nào; Đạo Đế vạch rõ con đường tu chứng khả thi khi kết hợp đạo đức, trí tuệ và thực hành (Giới, Định, Tuệ) cụ thể trên 8 phương diện (Bát Chính Đạo) quay trở về với chính mình để tu chứng, mà không phân biệt, không loại trừ ai, cho phép tất cả mọi người, cả nam nữ đều có thể thành tựu giác ngộ, giải thoát.
Tứ Diệu Đế là một học thuyết tôn giáo bình đẳng với tinh thần giảm/giải/giản thần quyền và bình đẳng niềm tin tôn giáo rất tiến bộ, ngược với Bà La Môn giáo, và đã đem lại sức sống mới cho Ấn Độ thời đó. Chỉ trong khoảng 3 thế kỷ (từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ III TCN) Phật giáo đã từ một tôn giáo không chính thống trở thành một tôn giáo chính thống, và buộc Bà La Môn giáo đến thế kỷ VII SCN phải canh tân, đổi tên thành Hindu giáo – tức tôn giáo của tất cả người Ấn Độ, chứ không còn là Bà La Môn giáo – tôn giáo của riêng đẳng cấp Bà La Môn.
Như vậy, cốt lõi vấn đề Bình đẳng giới của Phật giáo, được nhất quán từ căn bản tư tưởng bình đẳng vốn ở triết lý Tính Không, Vô Ngã và Giải thoát.
Để đạt tới giác ngộ và giải thoát, con đường tu dưỡng từ hiểu giáo lý và thực hành giáo lý Phật giáo dẫn người tu tới hiểu và đạt được Vô ngã vốn có. Đó là con đường chiến thắng cái Ta/Ngã. Con đường đó phải nhằm trở vào bên trong làm chủ được các cảm xúc (ái, ố, hỉ, nộ…) thắng được bản năng tham, sân, si để tiến tới tự giác Tam học (Giới, Định, Tuệ) và tỏ ngộ được bản chất đích thực Vô Ngã vốn có và vốn bình đẳng ở mỗi người, mà không phải do xuất thân nam hoặc nữ, hay do thần thánh ban cho.
Vậy khi Đức Phật chấp nhận Tỳ kheo Ni đầu tiên, mà phải kèm thêm điều kiện bắt buộc thực hiện nghiêm cẩn Bát Kính Pháp, phải chăng là vì mục tiêu đạt Vô ngã trên con đường giải thoát đối với Tỳ kheo Ni khó khăn hơn, bởi vì nhiều trở ngại do bản tính tự nhiên của giới nữ gắn với cái Ta/ Ngã nặng hơn Nam giới (?). Ta/Ngã như bản tính tự nhiên của nữ giới sẽ tạo nên thiên tính riêng của người mẹ, người vợ, người chị… Nhưng từ góc độ nghiệp báo, luân hồi thì nghiệp đời của nữ giới nặng hơn bởi vì yêu thương, giận hờn thiết tha hơn… Nói cách khác, cái Ngã của giới nữ to, nặng hơn! Khi xuất gia, những bản tính tự nhiên đó của Tỳ kheo Ni gắn với Ta/Ngã không dễ gì buông bỏ, mà theo vô thức đôi khi lại cản trở không nhỏ đến sự phát triển tâm linh theo hướng đạt đến Vô Ngã. Đức Phật đã lường trước được những cản trở khách quan đối với bước đường tu học tới giải thoát của Ni giới (trong bối cảnh Ấn Độ thế kỷ VI TCN). Nhưng cản trở lớn nhất mà Đức Phật nhìn thấy đang cản trở nữ giới trên con đường tu lại từ cái Ta/Ngã bên trong không được kiểm soát. Đây là lý do có tính logic nội tại của toàn hệ thống giáo lý, khiến Đức Phật băn khoăn, do dự khi chấp thuận cho Tỳ kheo Ni vào tăng đoàn. Song trước sự thỉnh cầu thiết tha, kiên nhẫn nhiều lần của Kế mẫu Kiều Đàm Di (Pajapati Gotami) – người đã nuôi dưỡng Đức Phật trưởng thành sau khi mẹ đẻ của Ngài – bà Ma Da (Maya Gotami) qua đời, cùng với những lời khuyên tình nghĩa và hợp lý của tôn giả Anandà, cuối cùng Đức Phật đã chấp nhận bà Kiều Đàm Di (Pajapati Gotami) là Tỳ kheo Ni đầu tiên cùng 500 người nữ tạo thành Ni đoàn nguyên thủy của Phật giáo. Phật giáo trở thành tôn giáo đầu tiên ở Ấn Độ công khai có Ni đoàn chính thức, thừa nhận khả năng tu học tới giải thoát của nữ giới bình đẳng như nam giới. Đây là một thử nghiệm cấp tiến trong bối cảnh Ấn Độ cổ đầy kỳ thị, bất công, bất bình đẳng đối với nữ giới, như đã nói ở trên. Có thể nói thử nghiệm này đầy rủi ro đối với sự phát triển Tăng đoàn Phật giáo buổi đầu vào lúc đó. Bát kính pháp do Đức Phật đặt ra như điều kiện bắt buộc đối với Tỳ kheo Ni, cũng như con số 348 giới luật dành cho ni giới, nếu nhìn vào bối cảnh Ấn Độ thế kỷ VI TCN, vẫn thực sự là một cuộc cách mạng vĩ đại về Bình đẳng giới. Bát kính pháp cũng như các giới luật nghiêm ngặt chính là hàng rào cần thiết để bảo vệ Tỳ kheo Ni, giúp họ tự giác điều chỉnh cái Ta/ Ngã, để không lạc hướng tu tập, mà nhất tâm hướng tới đích Vô ngã, tức tới giải thoát đích thực.
Theo quan điểm hiện đại thì, Đức Phật thực sự có tầm nhìn về Bình đẳng giới. Ngài thực sự tiên phong giải phóng niềm tin tôn giáo cho giới nữ ở xã hội Ấn Độ cổ, tiên phong thành lập Ni đoàn, mà các tôn giáo ở Ấn Độ lúc đó chưa có tiền lệ. Tuy nhiên, Đức Phật đã bao quát được thế mạnh và hạn chế của giới nữ khi họ xuất gia, gia nhập Tăng đoàn. Đức Phật cũng dự đoán tính khả thi và bền vững của Tăng đoàn khi có thêm lực lượng Tỳ kheo Ni với đặc thù giới khác biệt nhưng sẽ cần phải phát triển lành mạnh như một bộ phận không tách rời của toàn thể Tăng đoàn Phật giáo. Theo đó, có thể thấy Bát Kính Pháp không hề ngăn cản con đường tu của nữ giới xuất gia thành Tỳ kheo Ni, mà chỉ như hàng rào cần thiết giúp họ luôn tỉnh táo với tính Nữ của mình trong tu học trong tập thể Tăng đoàn thống nhất.
3. Ý nghĩa cách mạng, tiến bộ của bình đẳng giới Phật giáo
Trên thực tế, phụ nữ chiếm một nửa dân số toàn cầu và người lao động trên toàn cầu đa phần là phụ nữ, song hiện nay vẫn còn 88 trong số 180 quốc gia có bộ luật cấm phụ nữ làm một số công việc nhất định hoặc cấm hưởng các điều kiện giống như nam giới; hoặc nhiều quốc gia đã có luật pháp bảo vệ quyền bình đẳng giới, nhưng những rào cản vô hình bắt nguồn từ truyền thống văn hóa hoặc ý thức hệ vẫn đang ngăn cản sự bình đẳng thực sự cho giới nữ do đó mà những tiềm năng, sở thích, thế mạnh của giới nữ không được phát hiện và phát triển.
Ở Việt Nam, Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Ý nghĩa của quyền bình đẳng giới là nhằm xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội phát triển như nhau cho mọi giới trong kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Bình đẳng giới đang là tiêu chuẩn đánh giá trình độ văn minh của mỗi xã hội. Đó còn là cơ hội phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình văn minh.
Nhưng Bình đẳng giới về niềm tin tôn giáo là một cuộc cách mạng lớn lao mà Đức Phật đã tiên phong thực hiện thành công trong xã hội Ấn Độ cổ đại (thế kỷ VI TCN). Đến nay Phật giáo đang được UNESCO lựa chọn là một trong những tôn giáo tiến bộ, yêu chuộng hòa bình của nhân loại. Nếu phát huy được tư tưởng Bình đẳng giới của Phật giáo trong xây dựng Ni đoàn lành mạnh thì sức lan tỏa của Phật giáo trên thế giới sẽ rất lớn, vì nó sẽ mở rộng nhu cầu bình đẳng về tâm linh của một nửa dân số toàn cầu
PGS.TS. Hoàng Thị Thơ
– Viện Nghiên cứu Tôn giáo –Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
- Bát kính pháp do chính Đức Phật đề ra khi chấp nhận Ni đoàn Phật giáo đầu tiên. Nay Bát Kính Pháp được lưu trong Pali tạng (Tăng chi) ở kinh Mahāpajāpati Gotamī, và trong Luật Tạng (khoảng thế kỷ I TCN); còn trong Hán tạng (Trung A hàm) ở kinh Kiều Đàm Di. Bát Kính Pháp gồm 8 điều: 1. Tỳ kheo Ni phải cầu thọ giới Cụ túc nơi Tỳ kheo. 2. Tỳ kheo Ni cứ mỗi nửa tháng phải đến thọ giáo nơi Tỳ kheo. 3. Nếu nơi trụ xứ không có Tỳ kheo thì Tỳ kheo Ni không được thọ hạ an cư. 4. Tỳ kheo Ni sau khi thọ hạ an cư phải đối trước hai bộ chúng thỉnh cầu chỉ rõ về ba sự (thấy, nghe và nghi). 5. Nếu Tỳ kheo không cho phép thưa hỏi thì Tỳ kheo Ni không được thưa hỏi. 6. Tỳ kheo Ni không được nói điều trái phạm của Tỳ kheo. 7. Tỳ kheo Ni nếu phạm Tăng-già-bà-thi-sa thì phải đối trước hai bộ chúng hành bất mạn. 8. Tỳ kheo Ni dù đã thọ giới Cụ túc lâu đến một trăm năm, nhưng đối với trước Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc vẫn phải khiêm cung cúi đầu đảnh lễ.
- Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948) theo nguồn: https://thuvienphapluat.vn/ van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx


















































