Có những di sản được lưu giữ bằng công trình, có những di sản được ghi lại trong sử sách, nhưng cũng có những di sản được viết tiếp bằng chính cuộc đời của những đệ tử, môn đồ. Với Cố Tôn sư Hải Triều Âm, di sản ấy không chỉ hiện hữu qua hệ thống tự viện, trước tác hay những đóng góp nổi bật cho Ni giới Việt Nam, mà còn được tiếp nối trong hàng trăm môn đồ đang mang giới đức, đạo phong và tinh thần hoằng pháp của Người lan tỏa từ cao nguyên Lâm Đồng đến nhiều vùng miền đất nước. Sự hòa quyện giữa những giá trị hữu hình, vô hình đó đã tạo nên sức sống bền bỉ của một dòng truyền thừa qua nhiều thế hệ. Để nhận diện trọn vẹn di sản ấy, cần nhìn lại hành trình Tôn sư dày công gây dựng qua 60 năm tu học, hành đạo, được kể đến trong 2 giai đoạn.
Giai đoạn tại Sài Gòn – Gia Định (1954 – 1968), sau khi di cư vào Nam năm 1954 và tu học tại Ni trường Dược Sư một thời gian dài, Tôn sư được NS. Diệu Huấn dâng cúng Tịnh thất Liên Hoa làm cơ sở tu học, giáo hóa đầu tiên, đánh dấu công lao tạo tự của Tôn Sư trên mãnh đất Nam Bộ. Nơi đây gắn liền với nhiều gian khó của Người trong bước đầu hành đạo. Sau năm 1975, học chúng tìm về tu học đông đảo, các lớp học Phật pháp vẫn được duy trì dù thời cuộc biến động. Hiện tại, người nối tiếp hạnh nguyện, tiếp quản Liên Hoa là NS. Thích Thanh An với sự tu học của hơn 10 vị đệ tử.
Giai đoạn tại Lâm Đồng (1968 – 2013): Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của hệ thống tự viện. Năm 1968, Tôn sư được Hòa thượng Thích Thiền Tâm mời về Lâm Đồng để thành lập ‘xã Hoa Sen’ và gầy dựng Tịnh thất Linh Quang, đặt nền móng cho đạo tràng Tịnh Độ tại vùng đất cao nguyên. Đây cũng là trú xứ được Ni trưởng nhập thất chuyên tu 7 năm và trở thành ‘hạt nhân’ đầu tiên của làng chùa Đại Ninh, nơi Người bắt đầu độ chúng và thực hiện các công trình biên dịch kinh điển. Sau năm 1973, khi danh tiếng về đức độ và sự ảnh hưởng của Ni trưởng vang xa, chư Ni khắp nơi quy tụ về nương tựa, đạo tràng ngày càng mở rộng với sự hình thành thêm các ngôi chùa Hương Sen, Bát Nhã, Lăng Nghiêm… Mỗi tự viện, Thầy đều gửi gắm một hạnh nguyện nhưng không nơi nào rời khỏi tôn chỉ tu học do Tôn sư giáo huấn.
Với chùa Hương Sen – một cơ sở nuôi dạy ni chúng, các cụ già, không phân biệt bệnh tật, ốm đau (có những vị bị mù, có những vị bị điếc). Với lòng từ bi, Thầy đã giúp các vị có một trú xứ tu học an ổn, nương danh hiệu A Di Đà Phật để đới nghiệp vãng sanh. Tại chùa Bát Nhã (1990), Thầy từng bước xây dựng đạo tràng và trao cho NS. Thích Nữ Nguyên Châu chuyên dạy Ni chúng trẻ, thanh thiếu niên và nhi đồng với hơn 100 – 120 vị. Ngoài quy cũ thiền môn và chương trình bốn mùa tu học được thực hiện nghiêm túc thì nơi đây còn mở lớp học Phật pháp; dạy văn hóa phổ thông và Hán văn cho chúng trẻ.
Chùa Dược Sư (1989) – chiếc nôi đào tạo nhiều thế hệ ni chúng, cũng là nơi nơi tôn trí bảo tháp lưu giữ nhục thân Cố Tôn sư. Sau ngày Thầy viên tịch, NS. Bảo Tâm tiếp tục mở rộng và trùng tu Ni viện Hải Triều Âm, đưa nơi đây trở thành một trong những tự viện lớn nhất trong 60 tịnh thất, xóm Làng Chùa, thôn Phú An. Hiện nay, NT. Thích Nữ Vĩnh Lạc và NT. Thích Nữ Bảo Giác là người kế chùa Dược Sư và là người hướng dẫn Ni chúng tu học kinh Lăng Nghiêm, giữ gìn nếp sống thiền môn của Cố Tôn sư. Nhị vị Ni trưởng cũng chính là người có công in ấn và phát hành “Hải Triều Âm toàn tập” cũng như phổ biến các bài giảng của Tôn sư trên nền tảng số. Đến nay, chùa Dược Sư 1 quy tụ hơn 100 Ni chúng tu học, đồng thời là trung tâm lưu giữ, kế thừa và phát huy di sản của Cố Tôn sư Hải Triều Âm một cách rõ nét nhất. Năm 2012, Tôn sư sáng lập thêm chùa Dược Sư 2, ở Đam Ri, dưới chân đèo Bảo Lộc với sự quản nhiệm của NS. Vĩnh Thái, SC. Nhuận Đức và sự cộng tu của hơn 100 ni chúng.
Xuôi theo địa phận Sài Gòn – Gia Định, Tôn sư tiếp tục dựng lập chùa Viên Thông tại Long Thành, Đồng Nai, từ năm 1985 – 1988. Dưới sự điều hành của Ni sư Thích Hương Nghiêm, đạo tràng hiện có 18 Ni chúng thường trú và khoảng 40 hành giả thường xuyên về tu học, tiếp nối nếp sống thiền môn và đường lối giáo dưỡng do Cố Tôn sư kiến lập.
Tiếp nối di sản của Tôn sư, sự nghiệp giáo hóa của hàng môn đệ tiếp tục trãi dài từ Tây Nguyên, Nam bộ, ra tận duyên hải miền Trung, Bắc Bộ. Trên mãnh đất Ninh Thuận, có Ni sư Tịnh Chơn là người khai sáng chùa Minh Phát. Tại vùng cao nguyên như Đắc Lắc, Buôn Mê Thuột, Gia Lai, Kon Tum cũng có dấu chân hành đạo và tu học của 50 – 70 hành giả, truyền thừa Tịnh Độ, trong đó, Sư cô Phổ Giác (Đăk Lăk) là một Ni trẻ tận tâm, đầy nhiệt huyết với ni chúng.
Vượt ngàn cây số theo dãy đất chữ S, trở về miền Bắc Thủ đô, người viết kính cẩn nhắc đến NS. Bảo Tâm và NT. Thanh Tịnh – Nhị vị tôn túc khai sáng Thiên Ân và Phù Nghi Tây Thiên, độ hơn 200 Ni chúng tu học. Dưới sự dẫn dắt của Nhị vị Ni trưởng, đồ chúng tại đây được tiếp nối con đường tu tập giới luật, tôn chỉ tu học của Ân sư. Dù thừa hưởng chiếc nôi thiền quán, Tịnh Độ và thanh quy thiền môn của Tôn sư nhưng quý Ngài thừa hành và làm rạng rỡ chiếc nôi Mật giáo, nghi quỹ Drukpa trên đất Bắc. Tiếp đó là Ni sư Hải Minh, Trụ trì chùa Linh Sơn, Hòa Loan, nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Hiện tại, Ni sư tiếp độ khoảng gần 40 vị Ni trẻ, có những vị được đào tạo tại các trưởng Phật học ngoại quốc. Dù rời xa quê hương, Thầy Tổ và môi trường tu học kỹ cương nhưng các vị cũng không quên giữ vững thiền môn quy cũ.
Một tự viện khác ngay tại thủ đô Hà Nội mà người viết thầm tri ân là chùa Hưng Ký – nơi có một bậc Thầy dành nhiều tình thương cho huynh đệ chốn Tổ Hải Triều Âm khi hành đạo ở đất Bắc. Dù chỉ cầu học bên Tôn sư 3 tháng nhưng Ni trưởng Thích Từ Ân vẫn giữ gìn nề nếp và tôn chỉ Tôn sư chỉ dạy, tiếp tục hóa độ cho 50 đệ tử.
Dấu chân của môn đồ Cố Tôn sư không dừng lại trong nước mà còn vươn đến nhiều quốc gia, góp phần lan tỏa đạo mạch của Người trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại. Tiêu biểu có Ni trưởng Tâm Lạc (chùa Liên Hoa, Úc) – thành viên Hội đồng Điều hành Phật giáo Úc Châu, và Ni trưởng Giới Hương (chùa Hương Sen, Hoa Kỳ) – người có nhiều đóng góp trong lĩnh vực hoằng pháp, giáo dục và trước tác Phật học. Điều đáng quý không chỉ nằm ở sự hiện diện của các tự viện nơi xứ người, mà ở việc các thế hệ kế thừa vẫn bền bỉ gìn giữ nếp tu, phương pháp giáo dưỡng và lý tưởng phụng sự mà Ân sư truyền trao, để di sản ấy tiếp tục hiện diện trong không gian văn hóa mới.
Có thể nói, từ trung tâm Lâm Đồng, dấu chân hoằng hóa của hàng đệ tử từng bước lan tỏa đến khắp cả nước và hải ngoại, hình thành mạng lưới hơn một trăm tự viện cùng cả ngàn Ni chúng tu học. Dù hoạt động trong những bối cảnh văn hóa và xã hội khác nhau, các tự viện vẫn duy trì sự thống nhất về đường lối tu tập mà Ni trưởng đã kiến lập: lấy giới luật làm gốc, Tịnh độ làm Pháp môn và Bốn mùa hoa giác làm nền tảng giáo dưỡng Ni chúng. Bên cạnh đào tạo Ni chúng tài đức, các tự viện còn tích cực hoằng pháp, giáo dục, thiện nguyện và an sinh xã hội, góp phần đưa Phật pháp đi vào đời sống cộng đồng. Với hơn 100 đầu sách do Ni trưởng trước tác và biên soạn, các thế hệ môn đồ tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy và thực hành, tạo nên tính nhất quán cho quá trình truyền thừa. Nhờ đó, tạo nên sức sống bền bỉ cho di sản Hải Triều Âm, đưa ảnh hưởng của Ni trưởng vượt khỏi phạm vi tự viện, thành một giá trị chung của Ni giới Việt Nam đương đại.
NS. Thích Minh Hiếu {ĐSHĐ- 155}


















































