Ngồi trên thuyền mặt nước biển bao la, làn gió nhè nhẹ thổi lại, mùi hương phảng phất làm cho con người phấn chấn hơn, nhưng khi ngẫng đầu lên để thấy cánh buồm lay động hay gió lộng cũng không biết rõ ràng, cuối cùng là gió động hay phan động hay tâm tâm nhân giả động. Con đường này xuất phát từ Sri Lanka, trải qua các nước như Indonesia, con đường trải qua thật bình an, thuận buồm xuôi gió, hoàn toàn không gặp sóng gió, thật là may mắn. Người chủ trên chiếc thuyền này là một thương gia tên Nan Ðề người nước Thiên Trúc, trong tâm các vị luôn niệm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nan Ðề ngoái đầu nhìn lại xem tám vị Tỳ-kheo-ni, đang nhìn ngắm biển trời, nghinh đón những làn gió biển nhè nhẹ. Tám vị Tỳ-kheo-ni này ra đi thật không đơn giản, họ đến từ nước Sư Tử (nay là Tích Lan), đang phát nguyện vượt đại dương, hướng về Trung Quốc). Ðiều này giống như thuở ban đầu con gái của vua A Dục là công chúa Tăng Già Mật Đa (Samghamittā), là một Trưởng lão Ni, hướng dẫn 11 vị Tỳ-kheo-ni đến nước Sư Tử, xây dựng giáo đoàn Tỳ-kheo-ni, việc này làm cho người đương thời kính phục.
Tám vị Tỳ-kheo-ni này đang được Văn Ðế ủng hộ, năm thứ 06 Tây lịch 426, đi thuyền đến Quảng Châu. Sau đó, đến trú tại chùa Khai Phúc – đời Tống thủ đô là Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh). Chùa Khai Phúc tọa lạc tại Giang Tô (nay là huyện Giang Ninh, tỉnh Giang Tô), được kiến lập vào đời Tống. Trong quá khứ, khi chưa có Tỳ-kheo-ni người ngoại quốc đến Trung Quốc, Tỳ-kheo-ni Trung Quốc đều thọ giới từ đại Tăng, do nhân duyên hiện tại, bắt đầu có sự thay đổi.
Ni sư Tăng Quả họ Triệu tên Pháp Hựu, người huyện Tu Vũ, tỉnh Hà Nam, căn tính túc trực, thuần nhã, vui vẻ. Sau khi trưởng thành, trong lòng mang chí nguyện xuất gia, nhưng gặp chướng duyên, đến 27 tuổi mới được xuất gia. Sau khi xuất gia, bái Tỳ-kheo-ni Huệ Thông làm thầy, cũng là người Giang Tô. Ni sư Huệ Thông là người rất kiên định, đối với vấn đề thiền quán thật tinh thông, thần lực rất kiên cường, tu hành tăng tiến rất nhanh. Mỗi ngày, thường nhập định từ buổi chiều hôm nay đến sáng hôm sau mới xả định, sự hít thở miên mật, tinh thần luôn định tĩnh, hình tướng thiền định bên ngoài nhìn giống như cây khô bất động. Loại định này trong vũ trụ rất ít thấy, có nhiều tín đồ không rõ ràng vấn đề này, nên trong tâm thường sinh nghi hoặc.
Nguyên Gia năm thứ 06, tám vị Tỳ-kheo-ni từ nước Sư Tử đến, trú lại chùa Khai Phúc. Có lần, một trong tám vị Tỳ-kheo-ni này hỏi Ni sư Tăng Quả:
– Trong nước các vị, từ trước đến nay có Tỳ-kheo-ni ngoại quốc đến bao giờ chưa?
Ni sư Tăng Quả đáp:
– Chưa.
Bấy giờ, chư vị Tỳ-kheo-ni cảm thấy rất là kỳ lạ, và tiếp tục hỏi:
– Như thế trước kia chư ni Trung Quốc làm sao có hai bộ đại tăng chứng minh để thọ giới? Vì không có giới Ni, nên bây giờ Tỳ-kheo-ni Trung Quốc thọ giới chỉ có một bộ đại tăng.
Ni sư Tăng Quả đành miễn cưỡng trả lời:
– Chúng tôi theo chư Tỳ-kheo Tăng thọ giới thì được viên mãn, điều này quan trọng ở sự phát tâm của người thọ giới làm cho sinh khởi tín tâm mà được trang nghiêm, nhưng đó chỉ là phương tiện. Do vậy, trong quá khứ Ðại ái đạo Tỳ-kheo-ni được đắc giới từ Tám pháp Bát Kỉnh, năm trăm vị nữ xuất gia trong dòng họ Thích thỉnh Ðại Ái Đạo Tỳ-kheo-ni làm Hoà thượng (thân giáo sư), đây là một vấn đề đặc biệt. Ni sư Tăng Quả tuy trả lời nhưng trong lòng thật không bằng lòng với những lời giải thích của mình và sinh nghi ngờ.
Căn cứ kinh Ðại Ái Ðạo Tỳ kheo ni ghi lại: Tỳ-kheo-ni được xuất gia bắt đầu từ di mẫu Ma ha ba xà ba đề ( Mahāprjāptī), người phát nguyện tuân thủ Bát Kỉnh Pháp, nên đức Phật đồng ý cho bà xuất gia và thọ giới. Sau đó, Da Du Đà La phu nhân cùng năm trăm người nữ trong dòng họ Thích xuất gia cũng tôn Ðại Ái Ðạo Tỳ-kheo-ni làm Hoà thượng để thọ giới làm Tỳ-kheo-ni.
Ðại Ái Đạo được gọi là Tỳ-kheo-ni A Di (Bhikşunī Āryā), gọi như thế không phải vì bà là dì của Phật, mà A Di là tiếng gọi tắt của A Lê Di, tiếng Phạn gọi là A Lê Da (Āryā) ý dịch là Thánh giả, vì là người nữ nên gọi là A Lê Di, thế nên chữ này còn mang ý nghĩa Thánh Tỳ-kheo-ni, nhưng chữ “A” là một phát ngữ từ, “Di” tức là di mẫu, cách gọi như vậy nghe hay và biểu hiện sự thân thiện, hoàn toàn không có gì sai trái.
Vào đời Ðông Tấn – Trung Quốc, người đầu tiên thọ giới Tỳ-kheo-ni là Ni sư Tịnh Kiểm, ngoài ra còn có 04 vị khác nữa. Đời Tấn Mục đế, ngày 08 tháng 02 Thăng Bình nguyên niên (Tây lịch năm 357) tại Lạc Dương, Sa môn Ðàm Ma Kiệt Đa tổ chức giới đàn. Tại đây, chư Ni theo đại Tăng thọ giới Tỳ-kheo-ni. Do đó, trong Tỳ-kheo-ni truyện nói: “Từ đời Tống có Tỳ-kheo-ni, người đầu tiên cũng là Tịnh Kiểm”, nhưng Tỳ-kheo-ni Tịnh Kiểm thọ giới Tỳ-kheo-ni chỉ y theo đại Tăng thọ giới (một bộ tăng) không có hai bộ đại Tăng, có người cho rằng thọ giới như vậy chưa đúng luật. Do vậy, Tỳ-kheo-ni Tăng Quả mới đối thoại với chư Ni nước Sư Tử.
Tỳ-kheo-Ni Tăng quả tuy đối diện với chư Tỳ-kheo-ni nước Sư tử giải thích những vấn đề thọ giới của Tỳ-kheo-ni bản xứ, nhưng trong lòng không tránh khỏi sự nghi hoặc, nên đến thỉnh vấn ngài Tăng Già Bạt Ma (Samghavarman). Ngài Tăng Già Bạt Ma là người Ấn Độ, thông suốt tam tạng kinh điển nên ngài còn được danh hiệu là “Tam tạng pháp sư”. Ngài Tăng Già Bạt Ma cho rằng: giống như Đại Ái Đạo Tỳ-kheo-ni khi thọ Tỳ-kheo-ni hoàn toàn không ở Ni bộ thọ giới, nhưng vẫn đắc giới, thế nên trong quá khứ thọ giới vẫn xem được đắc giới, nên Tỳ-kheo-ni Tăng Quả cũng được xem như thế. Nhưng trước khi chư Tỳ-kheo-ni nước Sư Tử đến, vấn đề thọ giới lại được đặt ra, là thọ giới lại thì giới luật có viên mãn hay không? Tỳ-kheo-ni Tăng Quả hỏi: Có nên thọ giới lại hay không? Pháp sư Tăng Già Bạt Ma đáp: “Giới, định, huệ tam học trong Phật pháp rất là vi tế, nếu được thọ giới lại thì rất tốt”.
Thế nên, Tỳ-kheo-ni Tăng Quả quyết định thọ giới lại, nhưng 8 vị Tỳ-kheo-ni đến từ nước Sư Tử niên lạp chưa đủ, không đủ thập sư. Chư vị phải học thêm ngôn ngữ nước Tống và yêu cầu thương nhân người Thiên Trúc là Nan Đề hãy thỉnh thêm Tỳ-kheo-ni ngoại quốc đến để đủ thập sư Ni. Vào thời Tống Văn Đế, Nguyên gia năm thứ 10 (tây lịch năm 433) thuyền chủ Nan Đề lại trở về nước Sư Tử, cung nghinh thêm chư Tỳ-kheo-ni trong đó có Thiết Tát la (Tissarā) làm Thượng thủ trong 11 vị Tỳ-kheo-ni, đầu tiên các vị đến nơi 08 vị đến trước để học hỏi tiếng nước Tống. Do đó, cung thỉnh ngài Tăng Già Bạt Ma đến chùa Nam Lâm thiết lập giới đàn và truyền giới Tỳ-kheo-ni.
Chùa Nam Lâm toạ lạc tại thôn Trung Hưng, huyện Kiến Nghiệp, đời Tống Văn Đế, Nguyên gia năm thứ 04 (Tây lịch năm 427) cùng với vương phi Tư Mã Lương cúng dường nhà ở của chính mình. Vì Tấn Lâm công chúa mà xây dựng, để thiết lập giới đàn cho Tỳ-kheo-ni, từ đây Ni chúng theo thứ đệ mà thọ lại giới Tỳ-kheo-ni cho phù hợp với Giới luật. Đã có hơn 300 vị thọ giới trong các giới đàn này, có thể nói đây là vấn đề lịch sử trọng đại của Tỳ-kheo-ni Trung Quốc.
Sau những lần thọ giới này, chùa Khai Phúc đổi tên là Cảnh Phúc, và cúng dường cho chư Tỳ-kheo-ni nước Sư Tử, chùa này nằm trong nội thành Kiến Nghiệp ( nay là ngoại ô Nam Kinh), lấy tên của vị Ni thượng thủ là Thiết Tát La đặt cho tên chùa nên gọi là chùa Thiết Tát La. Sau đó, chùa này lại một lần nữa đổi tên là chùa Thúy Linh hay chùa Diệu Quả, đến đời Triệu Tống thì bị thiêu hủy, sau khi được trùng tu lại, đổi tên là Thụy Tướng Viện.
Sự thiền định của Tỳ-kheo-ni Tăng Quả rất cao thâm, sau khi thọ giới lại, Người tu hành càng tinh tấn hơn, đặc biệt đối với “pháp môn thiền quán”. Đến đời Tống Văn Đế, Nguyên gia năm thứ 18 (Tây lịch năm 441), có lần Ngài nhập định hơn một ngày. Bấy giờ, vị Duy Na trong chùa thấy ngài nhập định lâu như thế, trong lòng lo lắng sợ ngài có chuyện gì, nên đến chạm vào thân của Ni sư nhưng Ngài không một chút phản ứng, vị Duy Na cho rằng ni sư đã viên tịch, nên vội vàng đến quan phủ báo cáo.
Các vị quan trong triều nghe tin vội vàng đến xem, thấy thân thể của Tỳ-kheo-ni Tăng Quả lạnh từ lâu, cơ bắp đã cứng chỉ còn hơi thở nhè nhẹ, mọi người cho rằng Ni sư đã chết nên chuẩn bị tang lễ. Đột nhiên Ni sư xả thiền, mở mắt nhìn mọi người với nụ cười đầy hoan hỉ, làm cho mọi người kinh ngạc và tỏ lòng kính phục. Tỳ-kheo-ni Tăng Quả đối với vấn đề xuất nhập thiền rất tự tại. Thực sự, từ Cổ chí Kim những vị Ni tu hành thiền định giống như Tỳ-kheo-ni Tăng Quả được xem là vị Ni đạo cao đức trọng thì không ít, trong quá trình tu hành đạt đến trình độ này đáng làm mô phạm cho mọi người. Sau đó, tông tích của Người thật huyền bí người ta không rõ trong cuối đời Ni sư đi về đâu.
Tâm của hành giả tu thiền tự tại vô hạn miên viễn, vô thỉ vô chung, không đến không đi, có thể giống như Tỳ-kheo-Ni Tăng Quả cũng có mà cũng không, tùy tâm tự tại. Những hiện tượng của thân mạng chỉ là sự thị hiện, nên cuối đời tông tích không biết đi về đâu, đến đi không cần lưu vết tích. Cũng giống như sinh mệnh của mình bơi lội theo dòng nước trong thời gian dài. Người đạt được Thiền giống như sinh mệnh của một người bơi lội giỏi, từ trên đất mà đi vào trong nước, không một chút chướng ngại. Nhưng điều này đối với sinh mạng của chính mình và của người khác luôn được mọi người tôn kính, chúc phúc lành cho chúng ta được tự do tự tại. Sinh mệnh của Ni sư Tăng Quả do Người tự làm chủ lấy mình, đáng khâm phục, mỗi người chúng ta nên học bài học làm chủ chính mình.
Viên Minh Lược dịch từ Nữ Nhân Thiền
Tác giả: Hồng Khải Cao (ĐSHĐ-009)


















































