1. Ân Thầy – Nguồn sống của Giới tâm
Trong cuộc đời, ai cũng từng một lần cúi đầu tri ân người thầy đã gieo cho mình hạt giống trí tuệ. Nhưng trong con đường tu học Phật pháp, người thầy không chỉ là người trao tri thức, mà là người khai mở con đường giải thoát. Từ thời Phật tại thế, mối quan hệ giữa Thầy và trò đã được xem là mối nhân duyên sâu dày trong đời sống tâm linh. Không ít lần Phật dạy, Ngài chỉ là người chỉ đường, còn đích đến là do sự nỗ lực, kiên trì của tự thân, tự tâm mỗi người đệ tử. Bởi thế, ân Thầy theo Phật giáo không chỉ được ghi nhận bằng tâm nhớ ơn, mà bằng chính hạnh sống, hạnh tu, và hạnh giới của người học trò.
Trong niềm tri ân của người con Phật, hòa cùng không khí chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 – hàng đệ tử xuất gia một lòng hướng đến lòng biết ơn đối với những bậc Thầy đã cống hiến đời mình cho sự nghiệp “trồng người”. Đây cũng là dịp quan trọng để mỗi tu sĩ soi lại con đường mình đi, để thấy rằng: Có những bậc Thầy đã không chỉ trồng người, mà trồng cả Thánh hạnh; không chỉ trao kiến thức, mà trao cả giới thể – mạng sống tâm linh cho hậu học.
Từ đạo lộ ấy, có ba bậc Thầy rất đỗi quan trọng mà có lẽ hàng xuất gia trẻ ít nhớ nghĩ, hoài ơn. Đó chính là Hòa thượng Đàn đầu, Giáo thọ A-xà-lê và Yết-ma A-xà-lê, ba ngọn đèn giới đức soi rọi tâm thức người cầu đạo. Quý Ngài không sinh dưỡng chúng ta bằng huyết nhục, nhưng sinh ta bằng giới pháp, cho ta một đời sống mới – đời sống của người bước vào biển lớn Giới, Định, Tuệ.
2. Tam Sư – Ba ngọn đèn khai sinh giới thể
Trong nghi thức thọ giới, Giới tử quỳ trước ba vị Thầy, dâng thân tâm chí thành cầu được làm người phạm hạnh. Giới đàn khi ấy tĩnh lặng mà hùng thiêng; tiếng chuông ngân như nhịp thở của tâm thanh tịnh. Nơi đó, Tam Sư không chỉ là những vị chứng minh hình thức, mà là biểu tượng sống của giới pháp và chánh đạo.
Vị trí đầu tiên là Hòa thượng Đàn đầu – người đứng đầu đàn giới, truyền trao giới thể cho Giới tử. Hình ảnh từ hòa, trầm tĩnh, oai nghiêm của Ngài thật khó diễn tả. Ngài không chỉ “ban giới” mà còn ban sự sống của Giới thể, khai mở nơi người đệ tử ý thức về con đường giải thoát, về một đời sống thanh tịnh, vô cầu.
Hòa thượng Đàn đầu như tia nắng ấm áp chiếu vào tâm người học đạo, làm tan lớp sương mù của vô minh, mở cửa để giới pháp tràn vào. Giây phút ấy, Giới tử không chỉ nhận giới pháp, mà nhận một niềm tin tuyệt đối vào con đường phạm hạnh – con đường mà quý Ngài, bao thế hệ Tăng thân đã sống, đã giữ, và đang trao truyền. Hình ảnh cao quý ấy như minh chứng cho sự chào đời của một đời sống mới từ nơi con người cũ. Chính từ giây phút ấy, người cầu đạo không còn thuộc về đời sống thế tục, mà thuộc về dòng dõi của Phật, nối tiếp trong dòng duyên sanh, pháp tánh.
Bậc Thầy thứ 2 chính là Giáo thọ A-xà-lê – người gieo hạt giới vào tâm.
Nếu Hòa thượng Đàn đầu là người mở cánh cửa vào đạo, thì Giáo thọ A-xà-lê là người dạy cho ta biết cách sống trong cánh cửa ấy. Ngài dạy Giới tử từng cử chỉ, từng oai nghi, từng lời nói, từng bước đi – để giới không còn là khuôn phép cứng nhắc, mà trở thành hơi thở tự nhiên của đời sống phạm hạnh. Giáo thọ A-xà-lê là hiện thân của trí huệ và nếp sống chánh hạnh. Giới tử học từ Ngài không chỉ giới luật, mà học cả phong thái an nhiên, lời nói nhu hòa, và sự khiêm cung vô ngã. Từng bài học, từng lời huấn thị của Ngài thấm vào lòng như giọt mưa thấm đất – lặng lẽ mà nuôi dưỡng hạt giống giới tâm trổ hoa. Nhờ Giáo thọ A-xà-lê, Giới tử hiểu rằng: giữ giới không phải để tránh lỗi, mà để trở về với bản tâm thanh tịnh. Mỗi khi hành trì giới hạnh, là mỗi lần ta nghe lại tiếng Thầy dạy giữa lòng im lặng.
Bậc Thầy thứ 3 là Yết-ma A-xà-lê – người vận chuyển pháp tánh. Giới đàn không thể thành tựu nếu thiếu Yết-ma A-xà-lê. Ngài là người chủ trì các nghi thức tác pháp, dùng lời Yết-ma để thiết lập sự tương ưng giữa tâm Giới tử và tâm Tăng đoàn. Mỗi tiếng Yết-ma vang lên là nhịp tim của Giới pháp, là sự chuyển vận pháp tánh giữa người trao và người nhận. Nếu Hòa thượng Đàn đầu là “tâm từ” và Giáo thọ A-xà-lê là “trí tuệ”, thì Yết-ma A-xà-lê là hành động đúng pháp – kết tinh của giới đức và luật nghi. Ngài là người giữ cho mọi sự diễn ra thuần tịnh, đúng pháp, đúng ý Phật, để Giới đàn không chỉ có hình thức, mà có thần lực giới thể.
3. Giữ giới là giữ Thầy trong tim
Tri ân trong đạo Phật không chỉ là lời nói, mà còn đi đầu hành động. Người đệ tử báo đáp ân Thầy không bằng lễ vật, mà bằng giới hạnh thanh tịnh. Khi người tu giữ giới, giới thể tỏa sáng; khi giới thể tỏa sáng, đó chính là ánh sáng của Tam Sư đang soi chiếu trong đời sống phạm hạnh của các học trò, đệ tử. Trong đời sống tu học hôm nay, có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là quên giới, mà sợ quên Thầy trong giới. Mỗi khi buông lung, chính là lúc ta đánh mất hình bóng của Tam Sư trong tim mình. Và mỗi khi ta hành trì giới hạnh, là mỗi lần ta đang nói lời cảm tạ, tri ân không phải bằng miệng, mà bằng chính đời sống tỉnh thức. Chính vì vậy, mỗi đệ tử/ Giới tử cần phải nhận thức rõ: Giữ giới là giữ Thầy trong tim. Vì sống với giới là sống với tâm Phật; Học giới là học cách trở về với chính mình.
Trong tinh thần của ngày Hiến chương Nhà giáo, khi học trò khắp nơi trên cả nước dâng hoa tri ân cô thầy thì người học đạo cũng xin dâng lên Tam Sư – những bậc Thầy khai đạo những đóa hoa của giới tâm, của sự tinh tấn hành trì. Bởi trong đạo, không có món quà nào quý hơn giới hạnh, và không có lời tri ân nào chân thật hơn việc giữ giới thanh tịnh. Giới là nền của Định, Định là cửa của Tuệ. Giữ giới tức là giữ vững đường đi tới giác ngộ. Như vậy, người học đạo tri ân Tam Sư không gì hơn việc giữ trọn giới thể. Vì đó là cửa ngõ nối dài mạng mạch Phật pháp, làm cho hạt giống giải thoát được nảy mầm trong từng hơi thở, từng bước chân trên đạo lộ tìm về bản thể chân như, Niết-bàn. Có lẽ, đó chính là bông hoa tri ân Thầy Tổ/ Tam Sư đẹp nhất trong đạo vị xuất thế – một bông hoa nở trong tĩnh lặng nhưng ngạt ngào hương thơm giải thoát.
Chân Tịnh {ĐSHĐ-146}


















































