Từ bỏ niềm vui trần thế, xuất gia cầu đạo, có những chuyến đi trở thành điểm tựa tâm linh, là bước ngoặc chuyển hóa, sự trở về nội tâm. Hành trình đến Đất Phật – Ấn Độ là một chuyến đi như thế. Uớc mơ du hành, khát vọng chiêm bái Phật tích, Phương tích là cơ duyên sâu dày đưa hành giả trở về với cội nguồn Phật Giáo, nơi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã đản sinh, tu tập, giác ngộ và hoằng hóa vì lợi ích, hạnh phúc cho số đông, cho chư Thiên và nhân loại.
Nói đến đất Phật, ai cũng đã nhiều lần được nghe, được biết đến qua kinh điển, sử liệu và lời giảng chư Tôn đức. Những địa danh như Lâm Tỳ Ni, Bồ-đề Đạo Tràng, Lộc Uyển hay Câu-thi-na… đã trở nên thân quen trong lời kinh sớm tối. Thế nhưng, tất cả vẫn chỉ là hình ảnh được tái hiện qua ngôn từ và tri thức. Chỉ đến khi đủ duyên đặt chân đến Ấn Độ thì mới thật sự cảm nhận được không gian linh thiêng, chiều sâu lịch sử Phật giáo, và sự chấn động, xúc cảm mạnh mẽ nơi chính nội tâm mình.
Bất kỳ vị tu sĩ chân chính nào đến Ấn Độ cũng mang trong mình tâm thế của người đi tìm kho báu tâm hồn, với trái tim của kẻ trở về – trở về cội nguồn ánh sáng tỉnh thức, nơi từng dấu chân của Đức Thế Tôn vẫn còn in hằn trong lịch sử nhân loại và trong chiều sâu tâm linh của bao thế hệ người con Phật, mới thật sự hiểu rằng: có những điều chỉ có thể thấm nhuần bằng cảm giác nội tâm, chứ không thể nắm bắt trọn vẹn bằng ngôn từ.
Buổi sớm mai trên đất Ấn, bầu trời còn bảng lảng làn sương mỏng, mỗi bước chân đi là một tình cảm thiêng liêng “Đất Phật Tình Quê”, nơi từng chứng kiến sự ra đời của một bậc Đại Giác vì lợi ích của muôn loài. Trong khoảnh khắc ấy, tưởng như nghe rõ hơn bao giờ hết tiếng thì thầm của thời gian, tiếng gọi của cội nguồn đang nhẹ nhàng đánh thức niềm tri ân sâu kín trong lòng người hành hương đất Phật.
Vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật đản sinh, gió nhẹ đưa giữa không gian thiêng liêng nghìn năm của đất trời. Nhìn phiến đá khắc ghi hình sơ sanh bảo tướng khi xưa, ta thấy như Thái tử Tất-đạt-đa đang bước ra từ hông phải Hoàng Hậu Maya, bước đi 7 bước nhẹ nhàng trên bảy đóa sen hồng, mắt nhìn bốn hướng, tuyên bố dõng dạt:” Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc Tôn”, chư Thiên rải hoa cúng dường, nhạc trời reo vang, đón chào đức Thế Tôn xuất thế, niềm vui vô thượng, dạt dào hỷ lạc và niềm hy vọng. Niềm vui tột cùng đó lan tận từ hiện tại cũng như tương lai với những ai được đến nơi này.
Bồ-đề Đạo Tràng, ai đến đây cũng sẽ không còn thấy mình là một người hành hương đơn độc. Dưới cội bồ-đề cổ thụ, nơi Đức Phật thành đạo sau bốn mươi chín ngày đêm thiền định. Không khí ngập tràn pháp lạc, mọi suy nghĩ vụn vặt trong tâm tự nhiên lắng xuống. Bao thế hệ Tăng Ni, Phật tử từ khắp năm châu đã từng quỳ xuống, chánh niệm, soi chiếu chính mình. Trong khoảnh khắc nhiệm mầu ấy, mọi danh xưng, mọi vai trò đều tan biến chỉ còn lại một người con Phật nhỏ bé, đang học lại bài học lớn nhất của đời mình: giác ngộ, giải thoát là chất liệu quý giá mà không có gì để so sánh, ngang bằng. Khả năng quay về nhận diện khổ đau, chuyển hóa vô minh và nuôi lớn từ bi ngay trong đời sống là đích mà những người có đời sống tâm linh luôn hướng về. Năm nay là năm thứ 4, trong không khí chuyển lạnh mờ sương, Pháp hội niệm Phật A Di Đà do Hòa thượng thượng Minh hạ Thông khởi xướng với sự tham gia hơn 1000 Tăng Ni Phật tử Việt Nam diễn ra trang nghiêm, hùng tráng. Nơi đất thiêng, âm thanh vi diệu tiếng niệm Phật A Di Đà của đại chúng kết tinh như tiếng hải triều. Nhờ oai đức của Tháp Đại Giác Ngộ, cây Bồ đề thiêng, của Hòa thượng và chư Tôn đức Tăng Ni, đại chúng cảm nhận như” Tây Phương Lạc Quốc tại Ta Bà”. Hằng năm từ ngày 2-12 tháng 12 dương lịch đều diễn ra Pháp hội trùng tụng Kinh tạng Pali
(International Tipitaka Chanting Ceremony). Năm nay là năm thứ 20, với sự tề tựu của 11 quốc gia Phật giáo trên thế giới. Đặc biệt Tăng đoàn Việt Nam có đủ Theraveda và Mahayana cùng nhau hòa hợp tụng tiếng Pali mà không gặp khó khăn gì trong ngôn ngữ, khiến nhiều quốc gia nể phục và mến mộ trước tinh thần hòa hợp của hai phái đặc thù. Trong lễ Hội Trùng Tụng Tam Tạng Thánh Điển, mỗi quốc gia, mỗi ngôn ngữ, mỗi văn hóa khác nhau, nhưng đều cùng hòa vang tiếng kinh trầm hùng, lật lại từng trang lời dạy Luật tạng của bậc Đạo Sư. Sau lễ Trùng tụng Tam Tạng thánh điển là các Pháp Hội của các vị Lama Tây Tạng từ nhiều nơi trở về đất Phật, với các đàn tràng bánh bơ, chén nước, gạo, hoa, nhang, đèn… đặc trưng Phật giáo nơi thảo nguyên mênh mông cùng những pháp khí vang vọng nhiệm mầu dâng cúng Phật và cầu nguyện hòa bình, thôi hết thương đau.
Tại Vườn Lộc Uyển, nơi Đức Phật chuyển bánh xe Chánh pháp lần đầu tiên, với những nền gạch cổ xưa, ngôi chùa giữ Xá Lợi Phật, viện Bảo Tàng, những con nai vàng thân thiện… Nhìn tháp Dhamekh sừng sững ghi dấu nơi đây pháp Tứ Đế được Phật thuyết cho năm anh em ông Kiều Trần Như, để từ đó Tăng đoàn được thành lập. Tam bảo có mặt từ đây, từng bước chân của bậc xuất trần thượng sĩ đi khắp các nẻo đường, mang bức thông điệp từ bi cứu khổ cho thế nhân.
Bước đến Câu-thi-na, hai cây sa la trước chùa vẫn nghiêm trang đứng hầu đức Thế Tôn như từ thuở ấy! Đức Phật vào Niết bàn đã nói lời giáo huấn sau cùng cho bốn chúng đệ tử như người Cha già thương những đứa con khờ dặn dò trước lúc ra đi. Hỏi nhân gian tình là gì? Sao có thể bình yên trước sự chia ly, nghìn thu vĩnh biệt? Chỉ có bậc A la hán mới có thể bình tâm trước ngọn lửa vô thường. Từng hàng Tăng Ni Phật tử cúng dường y lên đức Thế Tôn, lòng không dám khóc nhưng nước mắt tuông trào, nghiến răng, chắt miệng nhưng tiếng nấc nghẹn ngào, xúc động như muống vỡ tim. Bao nhiêu tình thương yêu, kính trọng cũng không đủ nói lên xót xa của người con “bao năm lang bạc đời cùng tử” nay trở về gặp lại đấng Cha lành của muôn loài mà lòng quặn thắt, đớn đau, tủi thân, tủi phận. Quỳ xuống dưới chân Ngài, cúi đầu, ôm mặt, khóc ngất, nghẹn ngào, nỗi buồn ly biệt, thương thân, trách phận, nhớ lại lời thơ của Ngài Huyền Tráng từng than:
Phật hiện ở đời con trầm luân
Nay được thân người Phật diệt độ
Thương thay thân con nhiều nghiệp chướng
Không thấy được thân kim sắc của Như Lai
May mắn thay! Hạnh phước thay! Đức Phật đã vào Niết bàn nhưng Pháp Thân vẫn còn, như dòng suối thanh lương không bao giờ cạn, tưới mát bao trái tim nhân thế khổ đau, trở về tỉnh giác.
Ấn Độ hiện ra trước mắt với nhiều gam màu đối lập. Có những ngôi tháp linh thiêng, những lễ hội trang nghiêm, rực rỡ, nhưng cũng có những con đường bụi mờ khúc khủyu, những mảnh đời nghèo khó đang rong ruổi từng ngày với miếng ăn, giấc ngủ giữa trời đông lạnh giá. Nhìn những đứa trẻ chân trần nô đùa bên vệ đường, những chú chó hoang hiền lành theo chân các vị Sư ra vào Tháp Đại giác, chợt hiểu sâu hơn lòng từ bi của Thế Tôn. Chính sự thật về Khổ – Không – Vô thường ấy đã làm nên Pháp Ấn – một đạo giác ngộ, thấy sự thật, không trốn tránh cuộc đời, mà đi vào cuộc đời để hóa giải nổi khổ kiếp nhân sinh bằng trí tuệ và lòng từ bi.
Những ai có thiện duyên đặt chân đến Đất Phật, sự chấn động tâm tư, khi trở về mang theo trải nghiệm tâm linh kỳ diệu được đến đảnh lễ Tứ Thánh Tích – minh chứng hào hùng cho sự thị hiện, thành đạo, thuyết pháp độ sanh và nhập Niết bàn, cuộc đời Đức Phật Thích Ca tại thế gian. Những xúc cảm chẳng thể dùng ngôn ngữ để diễn bày trọn vẹn, nhưng là động lực, niềm tin để vượt qua mọi thử thách, chiến thắng chính bản thân mình trước những nghịch duyên, chướng duyên, phiền não, chủng tử xấu ác… đã huân tập sau nhiều kiếp luân hồi. Trải qua ngàn muôn ức kiếp gieo trồng thiện căn, ngày nay mới được gặp Phật pháp, hãy trân quý những thiện duyên ấy, tu tập và hành thiện để không cô phụ kiếp người và ân đức của Thế Tôn.
Nam mô Phật Quốc Trang Nghiêm Vô Lượng Công Đức Tạng.
Như Minh Bảo Tích {ĐSHĐ-148}


















































