Giải thoát dưới góc nhìn nữ quyền

I.   Khái niệm về giải thoát:

a.   Giải thoát được hiểu theo tâm linh và triết học

Trong các truyền thống cổ xưa, đặc biệt là ở phương đông, giải thoát chủ yếu là một hành trình nội tại, mang tính tâm linh. Mục tiêu là thoát khỏi vòng luân hồi của khổ đau và tái sinh.

Trong ấn độ giáo và phật giáo, giải thoát được gọi là moksha hoặc niết bàn. Đây là một trạng thái giác ngộ, nơi một cá nhân được giải thoát khỏi xiềng xích của nghiệp (karma), dục vọng và cái tôi (bản ngã). Đây là một cuộc truy cầu mang tính cá nhân sâu sắc, đạt được thông qua thiền định, đạo đức và sự buông bỏ mọi chấp trước. Trọng tâm là vượt lên trên cái tôi để đạt được trạng thái bình an tuyệt đối và hợp nhất với thực tại tối thượng.

Trong một số truyền thống triết học phương tây như triết học khắc kỷ (stoicism), giải thoát cũng là một vấn đề nội tại. Nó có nghĩa là giải phóng bản thân khỏi sự kiểm soát của các sự kiện và cảm xúc bên ngoài bằng cách làm chủ tâm trí của mình. Mục tiêu là đạt được trạng thái tĩnh lặng và đức hạnh bên trong, bất kể hoàn cảnh bên ngoài ra sao.

Trong hai thế kỷ qua, theo hệ tư tưởng mác-xít, thuật ngữ này thường đề cập đến giải phóng dân tộc như các cuộc đấu tranh giải phóng khỏi áp bức giai cấp. Nó cũng có thể biểu thị sự giải thoát hay tự do khỏi áp bức dựa trên màu da

Và công bằng xã hội. Trong thế kỷ hiện thời, thuật ngữ này thường được hiểu như sự giải thoát khỏi phân biệt đối xử dựa trên giới tính.

Như vậy, thuật ngữ giải phóng có nhiều cách sử dụng, bao gồm xã hội, cá nhân, chính trị, tôn giáo và kinh tế, cả tập thể và cá nhân. Ở các thời kỳ khác nhau trong lịch sử nhân loại, lý tưởng và thực tế của sự giải phóng mang một mối quan hệ riêng biệt với các giá trị và phong trào của thời điểm cụ thể đó. Trong thời đại tiêu dùng như chúng ta, sự tự do theo đuổi nhiều ham muốn của một người được đề cao, chứ không phải sự tự do khỏi ham muốn. Tuy nhiên, thời xưa, giải thoát có nghĩa là không bị ràng buộc bởi những xiềng xích của sự gắn bó với bản thân và với thế giới.

b.  Giải thoát được hiểu trong xã hội, chính trị và tâm lý

Trong kỷ nguyên hiện đại, đặc biệt từ thế kỷ 20 trở đi, khái niệm giải thoát đã mở rộng ra ngoài phạm vi cá nhân để bao trùm toàn bộ cộng đồng và xã hội. Nó trở thành một phong trào tập thể nhằm chấm dứt sự áp bức.

Như thế, đã có một sự tiếp nối và thay đổi về khái niệm giải thoát.

  • Về khía cạnh tiếp nối, chúng ta thấy mặc dù trọng tâm đã thay đổi, ý tưởng cốt lõi của giải thoát vẫn nhất quán: một khát khao phá vỡ xiềng xích của sự trói buộc và khổ đau. Bài tham luận này nhấn mạnh vào những trải nghiệm giải thoát mang tính cá nhân của các tỳ kheo ni thời xưa, được ghi lại trong therigatha – những vần thơ kệ tuyên bố giác ngộ của các thánh ni thời đức phật còn tại thế.
  • Về phương diện thay đổi, khái niệm giải thoát có sự thay đổi lớn nhất là chuyển từ một cuộc đấu tranh hoàn toàn nội tại, cá nhân (giải thoát khỏi cái tôi) sang một cuộc đấu tranh ngoại tại, tập thể (giải thoát khỏi sự áp bức).

c.   Mục tiêu chung của khái niệm giải thoát:

Cả hai khái niệm giải thoát trong quá khứ và hiện tại đều có chung mục tiêu là đạt được một trạng thái tồn tại chân thật và tự do hơn. Dù đó là sự giải thoát tâm thức khỏi dục vọng hay sự giải phóng một xã hội khỏi sự bất công, mục đích cơ bản là tạo ra một sự tồn tại công bằng hơn, hòa bình hơn và không bị gánh nặng.

II.    Khái niệm giải thoát từ góc độ nữ quyền:

Bây giờ chúng ta hãy khám phá khái niệm giải thoát từ góc độ nữ quyền, dựa trên các đoạn trích từ therīgāthā, những bài kệ giác ngộ của các thánh ni cổ xưa. Ngoài ra, chúng ta cũng tham khảo, so sánh thêm các bản dịch khác nhau về kinh điển phật giáo, chủ yếu dịch từ kinh tạng (sutta pitaka).

Ngược lại với niềm tin phổ biến hiện nay rằng một người phụ nữ phải mang thân nam để đạt được sự giải thoát cuối cùng (chứng quả a la hán), trong therigatha (thig.) Và bhikkhuni vagga của tương ưng bộ kinh (bhikni- sn.), chúng ta thấy nhiều ghi chép về các thánh ni đã giải thoát khỏi luân hồi, đạt được thánh quả trong kiếp này. Câu chuyện cuộc đời của các thánh ni thời nguyên thủy rất có ý nghĩa. Hầu hết trong số họ sau khi lắng nghe diệu pháp cao thượng, đã giải thoát bản thân khỏi sự ràng buộc cá nhân, chẳng hạn như kiêu hãnh và tự phụ về vẻ đẹp hay địa vị của mình như trường hợp của tỳ kheo ni khemā (thig. 6:3), trước đây là ái phi khemā của vương quốc magadha; tỳ kheo ni sundarì-nandà, (thig. 2:1) trước đây là công chúa nandā của dòng họ sākya, sundarì là danh hiệu “người rất xinh đẹp”. Nhiều người trong số họ bày tỏ cảm giác giải thoát khi vượt qua những luật lệ thông thường dựa trên những định kiến xã hội, và giải thoát thực sự là tự mình có thể cắt đứt những trói buộc của tham dục và vô minh, như trong bài kệ ngôn của tỳ khưu ni đệ nhất về trí tuệ nhạy bén này:

Khemātherīvatthu (dhmp. 346) ye rāgarattānupatanti sotaṁ, sayaṅkataṁ makkaṭakova jālaṁ; etampi chetvāna vajanti dhīrā,

Anapekkhino sabbadukkhaṁ pahāya.

Bị tham dục chi phối họ rơi xuống dòng chảy,

Giống như con nhện vướng víu chính mạng lưới nó giăng; người khôn ngoan cắt đứt những thứ đó,

Bình thản an nhiên từ bỏ mọi khổ đau.

Trong một ngữ cảnh khác, một thánh ni phật giáo ở ấn độ hơn 2500 năm trước là trưởng lão ni muttā đã bày tỏ cảm giác giải thoát của mình khi từ bỏ gia đình, thoát khỏi những ràng buộc hôn nhân, định kiến xã hội, dứt bỏ mọi ham muốn, xiềng xích tâm lý và giải thoát khỏi sinh tử qua kệ ngôn:

“nay ta đã thoát, khỏi ba thứ cong vẹo:
Cối, chày và người chồng những thứ cong vẹo!”

Kệ ngôn vắn tắt trên được trưởng lão ni kệ (thig 1:11) giải thích rõ hơn như sau: “lành thay tôi đã được giải thoát, đã khéo được giải thoát với sự giải thoát ba điều tệ hại là cái cối, cái chày, và ông chồng lưng còng. Tôi đã được giải thoát khỏi sanh tử, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa sạch.”

Với giọng điệu tương tự, nhưng sinh động hơn là lời hoan hỉ được thốt ra bởi một thánh ni thời xưa, người thậm chí còn không có tên riêng mà được gọi theo tên con mình, sumangalamātā:

“đã thoát! Đã thoát!
Ta đã hoàn toàn thoát khỏi —
Cái chày ấy – người chồng vô liêm sỉ và việc hắn làm lọng che nắng,
Cái nồi cũ mốc meo trong nhà với mùi tanh của rắn nước.
Ác cảm và đam mê ta chém lìa. Đến dưới gốc cây, ta thiền định,
Chìm đắm trong hỷ lạc: “hỷ lạc thay!”

Khảo cứu trong văn học phật giáo, chúng ta có thể thấy rằng, trong phật giáo, sự tìm kiếm giải thoát là cá nhân và riêng tư. Tự do mà những người thực hành phật giáo tìm kiếm là sự tự do khỏi ham muốn và giải thoát trong bối cảnh này có nghĩa là thoát khỏi vô minh, xé tan những xiềng xích do tham ái và mong muốn che mờ bởi chính sự vô minh đó. Hầu hết những xiềng xích mà những người thực hành phật giáo khao khát giải thoát là cá nhân, tuy nhiên, sự nỗ lực phi thường của họ trên con đường giác ngộ đã nêu gương tốt cho tất cả chúng ta, ngay cả khi cách xa vài ngàn năm sau, không cần phải nói đến những tác động của họ đối với xã hội đương đại. Quả thật đây là một nỗ lực anh hùng và xứng đáng là bậc trượng phu.

“này tissā, hãy tự rèn luyện với giới luật; đừng để các trói buộc cột chặt con.
Thoát khỏi mọi trói buộc,
Hãy bước đi trong thế gian với tâm vô lậu (anāsavā).”

Đây là những mẩu tự truyện rất ngắn của những thánh ni đã đạt được giác ngộ khi lắng nghe diệu pháp cao thượng, sau đó từ bỏ thế tục với tất cả những tiện nghi và lời hứa về tuổi trẻ, giàu có và xinh đẹp. Mục đích xuất gia tìm đạo và sự tu tập phát triển tâm thức trên con đường giác ngộ đã rõ ràng, như trưởng lão ni dhīrā đã tự nhủ trong trưởng lão ni kệ:

“này dhīrā, cô hãy chạm đến sự tịch diệt, sự tịnh lặng của các tưởng, sự an lạc, hãy thành tựu niết bàn vô thượng, sự lặng yên của các điều ràng buộc.”

Trong một diễn biến khác , tôn ni anopama theri kể: “sinh ra trong một gia đình quyền quý với nhiều tài sản, giàu có, tuyệt mỹ về dung mạo và vóc dáng, ta là con gái của majjha, vị thủ quỹ. Các hoàng tử tìm kiếm ta, các con trai của những thương gia giàu có khao khát ta. Một trong số họ đã gửi một sứ giả đến cha ta, nói rằng, “hãy gả anopama cho ta. Ta sẽ trả lại gấp tám lần trọng lượng của nàng bằng châu báu và vàng.” Nhưng ta, sau khi đã thấy đấng tự giác, vô thượng, siêu việt thế gian, đã đảnh lễ dưới chân ngài, ngồi xuống một bên. Ngài, gotama, vì lòng từ bi, đã dạy ta chánh pháp. Và khi ta ngồi ngay tại chỗ đó, ta đã đạt được quả vị thứ ba (bất lai). Rồi ta cắt tóc, và xuất gia sống không nhà. Hôm nay là ngày thứ bảy kể từ khi ta làm cho tham ái tàn lụi.

Các vị trưởng lão ni ngày xưa cũng thường soi chiếu vào danh xưng, tên gọi của mình để tìm ý nghĩa cho việc tu tập, hướng dẫn tâm vào con đường giải thoát cao thượng. Một tôn ni có tên là puṇṇā – hay mãn nguyệt đã dùng ẩn dụ ánh sáng trí tuệ xua tan màn tối vô minh, tự sách tấn mình như sau:

“này puṇṇā, cô hãy làm cho tròn đầy với các thiện pháp, tựa như mặt trăng viên mãn ngày rằm; với trí tuệ đã được phát triển hoàn toàn, cô hãy xua tan khối tăm tối (vô minh).”

Chủ đề thường xuyên về sự tự do khỏi ham muốn và giải thoát khỏi phiền não (kilesa) xuất hiện nhiều lần, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

thấy nguy hiểm trong thế gian, cả hai ta đều xuất gia và giờ đây

Cả hai đều giải thoát khỏi lậu hoặc, với tâm đã thuần hóa.

Nguội lạnh với đam mê,

Chúng ta đã tìm thấy sự giải thoát; nguội lạnh với đam mê,

Chúng ta đã tìm thấy tự do của mình.”

Chúng ta nói về những phiền não (kilesa) và những xiềng xích tâm lý (samyojana) mà một hành giả cần phải vượt qua hoặc cắt đứt để đạt được giải thoát. Trong thực hành phật giáo, chúng ta nói về sự giải thoát của tâm khỏi những khuynh hướng cảm xúc (ceto vimutti – tâm giải thoát) và khỏi những thành kiến trí tuệ (paññā vimutti – giải thoát bởi trí tuệ). Một ví dụ nổi bật về sự giải thoát của tâm khỏi những khuynh hướng cảm xúc là sự bày tỏ của tôn ni kisagotami, người đã đánh bại nỗi đau đớn vì mất con. Trong những bài kệ giác ngộ của tôn ni (bhikni, sn 5:3; thig. 10:1, kệ 213-223), kisagotami tuyên bố đã không còn ham muốn con trai, đã thành công trong việc đi theo con đường cao quý tám nhánh bất tử, chứng ngộ mục tiêu cao nhất của thực hành phật giáo (nibbāna), đặt gánh nặng xuống, đã làm những gì nên làm với một tâm trí đã giải thoát (suvimuttacittā). Sau khi xuất gia, tôn ni chọn con đường tu khổ hạnh, mặc thô y như được ghi lại trong kinh pháp cú:

Kisāgotamīvatthu – chuyện nàng kisāgotamī

Người mặc áo đống rác, gầy ốm, lộ mạch gân, độc thân thiền trong rừng. Ta gọi bà-la-môn.

Kisā gotamī là một cô gái bình dân, nhưng nhờ phước báu đặc biệt, nàng được gả vào làm vợ của một người đàn ông giàu có ở savasthi. Ban đầu gia đình chồng nàng thường tỏ ra khinh thường địa vị thấp kém của nàng, nhưng sau khi nàng sinh được một bé trai kháu khỉnh, địa vị của nàng trong gia đình chồng tăng lên đáng kể. Nàng yêu con vô cùng, đem tất cả tình thương và sự quan tâm dành cho con. Nhưng thật không may, khi đứa trẻ vừa mới lẫm chẫm biết đi thì nó bệnh nặng và đột ngột qua đời. Không chấp nhận được sự thật, kisā gotamī ôm xác con đi lang thang khắp nơi cầu xin người ta thương xót cứu giúp con. Mọi người nhìn nàng với ánh mắt thương hại, rồi có người tốt bụng và tín tâm chỉ cho nàng vào tịnh xá kỳ viên gặp đức phật để xin phép màu làm cho đứa trẻ đã chết sống lại. Khi nàng thất thểu ôm xác con đến chùa, đặt thi thể lạnh ngắt của đứa trẻ dưới chân đức phật cầu xin ngài ban phép màu cứu sống đứa bé. Đức từ phụ từ bi nhìn người phụ nữ trẻ, bảo cô hãy vào làng gõ cửa từng nhà xin ít hạt cải từ một ngôi nhà chưa có ai chết về làm thuốc “cải tử hoàn sinh” cho con cô. Với tia hy vọng ánh lên, nàng đi vào làng, gõ cửa từng nhà xin hạt cải. Nhà nào cũng sẵn lòng cho cô một ít hạt cải – thứ vốn là một gia vị không thể thiếu trong bếp nhà người ấn độ – nhưng khi cô hỏi có ai đã từng chết trong nhà họ chưa? Thì câu trả lời luôn là: đã có người chết ở đây. Có nhà đã từng mất ông, bà, cha, mẹ, cháu, con, và trẻ em nữa… Đi khắp nơi nhưng nàng không xin được nắm hạt cải nào từ ngôi nhà chưa từng có người chết.

Tuyệt vọng và mệt lả, nàng quay về tịnh xá kỳ viên với nhận thức thực tế rằng cái chết viếng thăm mọi gia đình, không riêng gì con nàng đã chết yểu, nhiều đứa trẻ khác đã chết, có những người sống lâu hơn, qua tuổi ấu niên, nhưng rồi không qua được tuổi thanh niên. Có người khác sống đến tuổi trưởng thành, nhưng không qua được tuổi trung niên. Lại có những người khác sống đến tuổi lão niên, lìa xa nhân thế khi đã có con đàn cháu đống, nhưng không ai sống mãi, không ai trường sinh … Nhận thức ra điều này, con mắt tuệ đã được khai mở. Nàng lặng lẽ đảnh lễ đức thế tôn rồi ôm xác con vào một khu rừng gần đó hỏa táng. Sau đó nàng xin đức thế tôn cho xuất gia làm tỳ khưu ni.

Sau khi xuất gia, kisā gotamī chọn hạnh tu giản dị, mặc y phấn tảo, và đã bị ma vương thách thức như đã được ghi lại trong tương ưng tỳ kheo ni đã kể trên. Trong kinh pháp cú, câu 114 nói về sự chứng ngộ của tôn ni về ý nghĩa kiếp nhân sinh như sau:

“dù cho sống trọn trăm năm,

Mà không thấy được con đường vô sanh, thì người dù sống một ngày,

Thấy vô sinh đạo, tốt thay một đời.”

Đúng vậy, cho dù người sống một đời dài dằng đẵng nhưng vô nghĩa thì cũng không bằng bậc giác ngộ, chỉ sống một ngày trọn vẹn với tâm tỉnh thức trước mọi vô thường đến đi của sự sống trong thân tâm mình và trong mọi tồn tại xung quanh.

Một trường hợp khác, đó là tỳ kheo ni somā – một phụ nữ đến với giáo pháp khi đã tương đối lớn tuổi. Bà somā là một phụ nữ khá giả, đã có chồng và 10 người con. Sau khi các con đã lớn, bà và chồng đã dựng vợ gả chồng cho các con. Rồi chồng bà cảm thấy đời sống thế tục không còn ý nghĩa gì nữa, ông xuất gia tu hành. Còn bà somā thì chia tài sản hết cho các con, nghĩ rằng mình sẽ lần lượt đến sống với gia đình từng đứa. Nhưng những gì đã xẩy ra không như bà mong đợi, thậm chí có những lần bà bị chính những người con đã có gia đình riêng của mình “ngó lơ” hay vợ – chồng họ kêu ca, nói rằng: “sao mẹ ở trong nhà con lâu vậy? Chồng/vợ con đâu phải là người thừa hưởng nhiều tài sản của mẹ”, … Cảm thấy chán nản, thất vọng về những người con của mình, bà somā quyết định vào chùa tìm nơi nương tựa.

Xuất gia ở tuổi đã lớn, tôn ni somā cũng không làm được gì nhiều, chỉ ở trong tinh xá nấu nước để cho các vị ni khác đi trì bình về có nước uống. Một hôm sau khi hoàn thành phận sự trong ni viện, tôn ni vào rừng hành thiền, ma vương (mara) hiện lên thách thức rằng trí tuệ của nữ giới chỉ ngắn như hai lóng tay, làm sao có thể theo đuổi con đường giải thoát? Câu trả lời của tôn ni somā đã giải tỏa sự hiểu nhầm về những thành kiến trí tuệ của mara và người đời về trí tuệ của phụ nữ:

“nữ tính có nghĩa lý gì khi tâm đã định tĩnh,

Khi tâm thức tỉnh liên tục đều đặn

Khi hành giả quán chiếu thấy thực pháp. Kẻ nào có thể nghĩ rằng,

‘ta là phụ nữ’ hay ‘ta là đàn ông’ hoặc ‘ta là bất cứ điều gì’ — thích hợp để ma vương lên tiếng.”

Do những định kiến, nhận thức và đánh giá về phụ nữ trong xã hội ấn độ suốt một thời gian dài rằng: phụ nữ phải phụ thuộc vào đàn ông, phụ nữ chỉ được coi là có giá trị nếu có chồng và sinh được con trai. Vì thế, khi một người phụ nữ bị chồng bạo hành, hất hủi, ngược đãi… Cũng phải chịu đựng, không dám phản đối, ly hôn. Hoặc khi họ bị mất con hay người chồng thân yêu, họ đau khổ hơn do sự gắn bó và phụ thuộc. Tuy nhiên, khi một phụ nữ nhận thấy được sự vô thường trong cuộc sống, đạt được tuệ giác về vô thường và hiệu ứng nhân quả của khổ đau, cô ấy sẽ có thể đứng lên từ mớ hỗn độn của những sự kiện có điều kiện đó. Tuệ giác cho phép cô thấy sự thay đổi và những khổ đau do thay đổi gây ra là những sự kiện phổ quát, chúng xảy ra với tất cả mọi người vào một thời điểm nào đó. Nếu cô ấy có thể chấp nhận nó như một quy luật tự nhiên, cô sẽ được giải thoát khỏi những phản ứng cảm xúc như: “tại sao điều này xảy ra với tôi! Tại sao lại là tôi!” Trường hợp đạt được tuệ giác về vô thường và giải thoát khỏi những ràng buộc cảm xúc này được tìm thấy trong nhiều trường hợp của các thánh ni giác ngộ thời xưa như patacara và kisa gotamī , những người đã chịu đựng sự mất mát con (hoặc con cái và tất cả những người thân yêu), sau khi gặp pháp do chính đức phật thuyết giảng, họ đã thoát khỏi nỗi đau khổ, chấp nhận sự thật của cuộc sống, họ gia nhập ni đoàn, rồi nỗ lực tu tập để đạt được sự giải thoát cuối cùng.

Tỳ Kheo Ni Pháp Hỷ – Dhammanandā Theri

SỰ KIỆN NỔI BẬT
VIDEO SỰ KIỆN
Video thumbnail
Diễu hành xe hoa của các Chùa thuộc TP. Vũng Tàu cũ
02:39
Video thumbnail
Ni giới TP.HCM kính mừng Đại lễ Phật đản PL.2570 - DL.2026
04:55
Video thumbnail
Từ nguồn cội Linh Phong đến lễ dâng hương tưởng niệm tại chùa Phước Huệ
04:54
Video thumbnail
PBNG TW - PBNG TP.HCM CHÚC TẾT CHƯ TÔN GIÁO PHẨM VÀ CÁC CƠ QUAN BỘ NGÀNH
09:25
Video thumbnail
TPHCM: Ấm Lòng Siêu Thị 0 Đồng
02:51
Video thumbnail
CHÙA LAM VIÊN TỔ CHỨC PHIÊN CHỢ TỪ TÂM CHỦ ĐỀ "XUÂN YÊU THƯƠNG"
03:10
Video thumbnail
TỔNG KẾT CÔNG TÁC PHẬT SỰ CỦA PBNG TP.HCM NĂM 2025
07:03
Video thumbnail
PBNG TW & TP.HCM THĂM VÀ CÚNG DƯỜNG 7 TRƯỜNG HẠ
09:44
Video thumbnail
CHÙA PHẬT HỌC TỔ CHỨC ĐẠI LỄ VU LAN: TRI ÂN, BÁO HIẾU VÀ PHỤNG SỰ THIỆN NGUYỆN
02:32
Video thumbnail
LỄ TRI ÂN QUÝ SƯ BÀ
11:16
Video thumbnail
CHÙA SẮC TỨ TAM BẢO TRANG NGHIÊM TỔ CHỨC LỄ HÚY KỴ LẦN THỨ 5 CỐ NI TRƯỞNG THƯỢNG NHƯ HẠ HẢI
04:35
Video thumbnail
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ I NHIỆM KỲ 2025 - 2030
04:02
Video thumbnail
KHÓA BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) và CHUYỂN ĐỔI SỐ
03:50
Video thumbnail
NI GIỚI VIỆT - ĐÀI: ĐẠO TÌNH VƯỢT BIÊN CƯƠNG
07:54
Video thumbnail
PHÁP VÕ - DÁNG NI LƯU TRÊN LỐI "KHẤT THỰC CỔ PHẬT"
13:06
Video thumbnail
PBNG TW VÀ HÀNH TRÌNH CÚNG HẠ TÂY NGUYÊN 2025
06:11
Video thumbnail
PBNG TW VÀ HÀNH TRÌNH CÚNG HẠ TÂY NGUYÊN 2025
06:10
Video thumbnail
Hội thảo khoa học “Đóng góp của nữ giới Việt Nam với giao lưu và phát triển Phật giáo Châu Á”
17:32
Video thumbnail
Khóa Tu Trở Về Nhà - Hướng về Vesak 2025 Thiêng Liêng - Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam 21-23/03/2025
12:53
Video thumbnail
Lễ Tưởng Niệm Thánh Tổ Ni và chư Tôn Đức Ni tiền bối hữu công - Ni giới tỉnh Khánh Hòa kính tri ân
14:08
Video thumbnail
"Thấu Hiểu & Yêu Thương Qua Những Câu Chuyện Jātaka - Phóng Sự Đặc Biệt - Đặc San Hoa Đàm"
05:04
Video thumbnail
Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Phật Sự Của PBNG TP. Hồ Chí Minh Năm 2024
06:50
Video thumbnail
Tổng kết công tác Phật sự của PBNG TP.HCM năm 2024 - PL.2568
17:11
Video thumbnail
PBNG TW thăm trường Hạ 5 tỉnh Tây Nguyên - PL.2568 - DL.2024
16:46
Video thumbnail
Ni sinh trường Cao Trung Phật học Tiền Giang tụng kinh Pháp Hoa Kính mừng Phật đản - 11/5/2024
03:34
Video thumbnail
HỌP MẶT - MÓN QUÀ CAO QUÝ KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN
09:32
Video thumbnail
THIỀN HÀNH SAU KHI THỌ THỰC
02:18
Video thumbnail
Ni giới Phật giáo TP.HCM kính mừng Đại lễ Phật đản PL.2568 - DL.2024
09:45
Video thumbnail
Lễ Húy Kỵ lần thứ 25 Sư trưởng thượng NHƯ hạ THANH tại Tổ đình Huê Lâm - Q11, TP.HCM
33:24
Video thumbnail
PBNGTW: Tiểu ban Thông tin Truyền thông | ĐẶC SAN HOA ĐÀM
03:38
Video thumbnail
PBNGTW: Tổng kết công tác Phật sự năm 2023 | ĐẶC SAN HOA ĐÀM
15:51
Video thumbnail
Hội đồng Thập Sư 3 đàn phát thưởng cho các Giới tử - Đại giới đàn Bửu Huệ 2023
03:44
Video thumbnail
Tuần Chiếu tại Giới Đàn Ni Chùa Thanh Tâm
03:02
Video thumbnail
Đại Giới đàn Bửu Huệ tại Giới trường Ni - Chùa Thanh Tâm - 2023
09:53
Video thumbnail
Lễ Huý Kỵ lần thứ 3 cố NT. TN. thượng Như hạ Hải - Chùa Sắc Tứ Tam Bảo, Hà Tiên - 26/9/2023
07:38
Video thumbnail
Lễ Khai đàn Dược sư Thất Châu - Chùa Pháp Hải
17:47
Video thumbnail
Lễ Húy Nhật lần thứ 17 cố Ni trưởng Thượng Như Hạ Bổn - Viện chủ TĐ Kim Sơn (27/7/2006 - 23/7/2023)
45:08
Video thumbnail
Lễ Húy kỵ cố Hòa thượng Thích Nhật Quang tại Hội Sơn Cổ tự
16:37
Video thumbnail
Tọa đàm “Bình đẳng giới trong Nữ giới Phật giáo - 2023” – Chùa Huê Lâm, TP.HCM
19:56
Video thumbnail
Lễ húy nhật lần thứ 6 cố Sư trưởng Thượng Huyền Hạ Huệ - Hải Ấn Ni Tự, TP.HCM
14:11
Video thumbnail
Lễ Vu Lan và Dâng Y tại chùa Vạn Phước - Bình Tân - TP.HCM
11:04
Video thumbnail
Đại lễ Vu lan báo hiếu tại chùa Pháp Võ - Nhà Bè - TP.HCM
12:37
Video thumbnail
“Rửa Chân Tri Ân Song Thân” - Chùa A Di Đà - Củ Chi - Tp.HCM
19:13
Video thumbnail
PBNG TW thăm, sách tấn Chư hành giả an cư tại các Hạ trường tỉnh miền Đông, 28/7/2023 (11/6/Quý Mão)
20:02
Video thumbnail
PBNG TW hoàn tất chuyến thăm và cúng dường Hạ trường tại Tây Nguyên 2023
18:50
Video thumbnail
PBNG TW thăm 4 tỉnh: Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum
08:16
Video thumbnail
Kính mừng Đại lễ Phật đản - PL.2567 - DL.2023 - BTS Giáo hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Tiền Giang
08:05
Video thumbnail
Đại lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo & Chư Tôn Đức Tiền Bối Hữu Công PGVN | ĐẶC SAN HOA ĐÀM
10:47
Video thumbnail
Đại lễ Kiều Đàm Di tại Bình Phước 2023: Triển lãm - Dâng hương - Tọa đàm - Thắp nến tưởng niệm
34:37
CÁC BÀI KHÁC
XEM THÊM