I. Chùa Bình Quang – ngôi cổ tự miền duyên hải Nam trung bộ
1. Vị trí, kiến trúc:
Bình Quang Ni Tự là một ngôi chùa uy nghiêm, bề thế, có lịch sử đã 125 năm, tọa lạc tại số 02, đường Cao Thắng, phường Bình Hưng, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận cũ, nay thuộc phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng.
Ngôi chùa có cổng Tam quan được xem như đẹp nhất của tỉnh Bình Thuận. Chùa được cất theo hình chữ nhật phía trước là chánh điện, cách một khoảng sân thì đến nhà Thiền. Sau nhà thiền lại có một khoảng sân nhỏ rồi đến trai đường, nhà trù. Nối liền từ Trai đường lên nhà Thiền và Chánh điện là đông tây lang. Chánh điện thờ Phật rất đơn giản nhưng trang nghiêm tao nhã.
Phía sau chánh điện là nhà Tổ thờ chư Tổ Tì Ni, Thông Ân Hữu Đức, Tổ Phi Lai và Chư Tôn Đức Hòa Thượng chính giữa, phía tả thờ Đức Kiều Đàm Di Mẫu, phía hữu thờ Sư trưởng Diệu Tịnh, Ni trưởng Huyền Học và một số chư Tôn Đức Ni quá cố. Nhà Thiền thờ Ni trưởng Huyền Tông cùng Ni trưởng Như Tâm (đệ nhị và đệ tam trụ trì).
Từ cổng đi vào, bên cạnh chùa phía hữu là vườn Tháp của Chư Tôn Đức Ni. Ngôi tháp phổ đồng đẹp và lớn nhất thờ di cốt của Sư trưởng Diệu Tịnh, Ni trưởng Huyền Tông, Ni trưởng Huyền Học, cùng di cốt của một số chư Tôn đức Ni đệ tử của nhị vị Ni trưởng.
2. Lịch sử hình thành:
Theo “Chùa Tôi Bình Thuận’s Post” lấy nguồn tin từ chùa Phật Ân1 Văn phòng Ban Trị Sự Phật Giáo Bình Thuận, chùa Bình Quang xưa kia là một ngôi chùa làng, do các hương chức cùng nhân dân sáng lập vào năm Thành Thái thứ 11 (1900) để thờ Phật.
Trong khoảng 1936 – 1937, nhân duyên có một vị Ni còn trẻ nhưng danh tiếng vang lừng và rất được quý trọng, được xem là vị Giáo thọ Ni và là vị trụ trì chùa Ni đầu tiên ở Gia Định đương thời – Gia Định thời xưa ấy bao gồm cả miền nam Việt Nam, từ Đồng Nai đến tận Cà Mau, Rạch Giá2. Bậc Tôn túc ấy chính là Sư trưởng thượng Diệu Hạ Tịnh, đang trên đường từ miền Nam đi hoằng hóa ra miền Trung, ghé lại Bình Thuận để khai đàn giảng pháp. Cảm ân đức và mến phục tài năng, đức độ của Sư trưởng nên dân làng cung thỉnh Sư trưởng Diệu Tịnh trụ trì và cúng dường luôn ngôi chùa Bình Quang này cho Sư trưởng vào năm 1937. Sư trưởng tiếp nhận, thành lập chùa Ni đầu tiên của Phan Thiết. Tuy nhiên do bận rộn nhiều Phật sự ở nhiều nơi nên sau một thời gian, Sư trưởng giao lại cho hai đệ tử vốn cũng là người gốc địa phương là Ni trưởng Huyền Tông và Ni trưởng Huyền Học cùng chung lo điều hành Phật sự chung.3 Từ đó, chùa Bình Quang (Bình Quang Ni Tự) trở thành Tổ đình của Ni giới Bình Thuận.
Năm 1938, trên đường từ Bắc về Nam, Sư trưởng Diệu Tịnh có dịp ghé Huế, giảng dạy Kinh Phạm Võng Lược Sớ cho Hoàng Thái Hậu Từ Cung nên năm 1939, Vua Bảo Đại triều đình Huế ban Sắc tứ cho Bình Quang Ni Tự.4
3. Truyền thừa và phát triển:
Bình Quang Ni Tự là ngôi chùa đã từ rất lâu được xem như Tổ đình của Ni giới, nơi tổ chức tất cả các Đại Giới đàn cho Ni chúng, nơi là địa điểm học luật, Phật pháp, nghe thỉnh giảng và An cư kiết hạ hàng năm của Ni giới Bình Thuận. Đây cũng là nơi tổ chức các lễ Tôn giáo lớn hàng năm cho chư Ni cùng Phật tử tham dự. Đặc biệt, đây cũng là mạch nguồn sữa pháp, gắn liền với các danh Ni Phật giáo Việt Nam và trong tỉnh nhà.
Có thể nói Bình Quang Ni tự là nơi đào tạo, tôi luyện hầu hết Ni chúng tại Phan Thiết nói riêng và Bình Thuận nói chung. Hai đệ tử kế thừa của Sư trưởng Diệu Tịnh là Ni trưởng Huyền Tông và Ni trưởng Huyền Học là các bậc thạch trụ trong hàng Ni giới, đã được không những toàn thể chư Ni kính mộ mà chư Tôn Túc Tăng già trong và ngoài tỉnh cảm mến đức độ, đạo hạnh.
Ni trưởng Huyền Tông suốt cuộc đời gắn bó chăm lo việc chùa, thu nhận dưỡng nuôi đệ tử nề nếp và tạo dựng ngôi chùa Bình Quang thành ngôi phạm vũ trang nghiêm. Trong khi đó, Ni trưởng Huyền Học chịu trách nhiệm giáo dục Ni chúng, tham gia với Giáo hội Phật giáo, đảm trách các Phật sự địa phương và Trung ương. Nhị vị Ni trưởng độ đệ tử chung nên Ni chúng và Phật tử thường gọi Ni trưởng Huyền Tông là Thầy Bình Quang, Ni trưởng Huyền Học là Thầy Giảng Sư.
Khi nhị vị Ni trưởng đã đến tuổi lão thành, đệ tử của các Ngài là Ni trưởng Như Tâm kế thừa sự nghiệp, cũng đã nỗ lực trùng tu và cho xây dựng thêm một số công trình khiến Bình Quang Ni Tự trở thành ngôi Tổ đình Ni có cơ sở khang trang, tráng lệ, rộng rãi và đầy đủ tiện nghi, xứng hợp với các Phật sự địa phương như hiện nay.
2. Mạch nguồn suối pháp lan tỏa:
Điều đáng trân trọng và tán dương nhất là từ mạch nguồn suối pháp Bình Quang, Sư trưởng Diệu Tịnh đã khai thông dòng suối, khiến tuôn chảy các bậc danh Ni tài năng như Ni trưởng Huyền Học, Ni trưởng Huyền Huệ, những bậc Ni lưu đi tiên phong trong việc khởi xướng phong trào tập họp Ni giới miền Nam đoàn kết cùng nhau tu học, phát triển, dấn thân phụng sự, đóng góp vào nền tảng của sự hình thành Ni bộ Bắc Tông năm 1956.
Tiếp nối hành trình khai hóa mạch nguồn của Thầy Tổ, quý Ni trưởng Huyền Tông, Huyền Học và Huyền Huệ đã nuôi dưỡng, đào tạo hơn 30 đệ tử hiện đang trụ trì hầu hết các ngôi chùa, tự viện Ni ở Phan Thiết, Bình Thuận, Lâm Đồng cũng như khắp các tỉnh thành tại Việt Nam và một vài nơi ở hải ngoại. Phần đông trong số các đệ tử này đã tham gia đóng góp và đảm nhận nhiều chức vụ trong Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) cũng như Phân ban Ni giới tỉnh nhà. Cũng từ hơn 30 nhánh suối được khai thông từ mạch nguồn, hàng trăm Ni chúng được tài bồi, phân bổ khắp nơi trong toàn quốc và trên thế giới, đóng góp không nhỏ vào sự lớn mạnh, phát triển của Ni giới Việt Nam nói riêng và của Phật sự GHPGVN nói chung.
II. Các thế hệ trụ trì chùa bình quang
1. Sư trưởng Thích Nữ Diệu Tịnh (1910-1942):
Lá cờ đầu trong công cuộc xây dựng, đoàn kết Ni bộ Việt Nam thời cận đại
Sư Trưởng thế danh Phạm Thị Thọ, sinh năm 1910 tại Gò Công, giòng giỏi Phạm Đăng quyền quý. Năm 15 tuổi, Sư trưởng đến chùa Tân Lâm ở Tân Sơn Nhất cầu pháp với Tổ Phi Lai-Chí Thiền (Như Hiển), được Tổ đặt pháp danh Hồng Thọ, hiệu Diệu Tịnh. Sư trưởng sau đó được theo học tại trường Ni Giác Hoa ở Bạc Liêu, rồi về Gia Định học với Hòa Thượng Như Quý (Tổ đình Phước Tường, Thủ Đức). Năm 19 tuổi, Sư trưởng được cử làm Trụ trì chùa Hội Sơn (Châu Thới, Biên Hòa). Năm 20 tuổi (1930), Sư trưởng thọ Tỳ kheo ni giới tại trường Kỳ, núi Điện Bà, do Tổ Như Nhãn (Từ Phong) làm đàn đầu Hòa Thượng. Sau đó, Sư trưởng theo học với Tổ cho đến lúc Tổ viên tịch.5
Đương thời, Ni chúng chưa phát triển nên Sư trưởng luôn mang hoài bão, tâm huyết khởi xướng phong trào tập hợp, phát triển, chấn hưng Ni giới miền Nam. Vốn được đào tạo bài bản về cả Phật học lẫn thế học, nên khi đi giảng dạy hoặc lúc Sư trưởng viết những bài đăng trên tạp chí Từ Bi Âm, ngoài các nội dung về giáo pháp, Sư trưởng đặc biệt chuyên đề cập các nội dung kêu gọi chư Ni đoàn kết cùng nhau tu học, phát triển và chấn hưng Ni giới, kêu gọi tổ chức trường Phật học cho Ni chúng, kêu gọi Ni chúng cần có trách nhiệm với Phật giáo, khuyến khích xây dựng chùa Ni…6 Sư trưởng cũng tự dịch và cho in, ấn tống các kinh: Pháp Bảo Đàn, Phổ Môn, Vu Lan nhằm khích lệ tinh thần tu học của Ni giới.
Năm 1933, khi vừa tròn 24 tuổi, chùa Giác Hoàng, Bà Điểm khai trường hương cho hai giới Tăng, Ni tu học (đây là lần đầu tiên có trường tổ chức lớp học cho phép có chư Ni tham dự), Sư trưởng được mời làm Chánh na, lãnh đạo Ni chúng và sau đó được nhận là Giáo thọ Ni đầu tiên của tỉnh Gia Định.
Năm 1934, Sư trưởng được cử làm Trụ trì chùa Thiên Bửu (Búng). Nơi đây, Sư trưởng mở lớp dạy Quốc ngữ và chữ Nho cho trẻ em. Cũng tại đây trong cùng năm này, Sư trưởng khai trường Hương 3 tháng cho Ni chúng đến học. Sư trưởng Diệu Tịnh cùng Sư trưởng Như Thanh (chùa Huê Lâm, Cây Gõ) dạy Luận và Luật. Học Ni được vài mươi người. Đây là trường Hương đầu tiên do Ni giới tổ chức, là tiền đề cho sự phát triển, trưởng thành của Ni giới về sau.7
Cuối năm 1934, Sư trưởng mời quý Sư trưởng Diệu Tấn (chùa Kim Sơn), Diệu Tánh (chùa Huê Lâm), Diệu Thuận tích cực đóng góp cùng xây cất chùa Ni Từ Hóa tại làng Tân Sơn Nhì (Gia Định). Năm sau chùa được dời sang làng Tân Sơn Nhất, đổi hiệu là Hải Ấn Ni Tự. Đây là ngôi chùa Ni đầu tiên do chính chư Ni của vùng Gia Định dựng lập.
Năm 1937, Sư trưởng nhận chùa Bình Quang Phan Thiết như đã đề cập ở trên
Tháng 4/1938, chùa Phước Long (Mỹ Tho) khai hạ, mời Sư trưởng làm Pháp sư giảng dạy trong ba tháng. Cuối tháng 7 năm này, Sư trưởng ra Bắc tham cứu Luật tạng. Trên đường đi, Sư trưởng ghé Bình Định thuyết pháp tại chùa Liên Tôn và chùa Thiên Hưng, đến Đà Nẳng viếng Hội Phật Học Đà Thành, đến Huế gặp cụ Lê Đình Thám và Ni trưởng Diệu Không (lúc chưa xuất gia). Đến Hà Nội, Sư trưởng được mời thuyết pháp tại chùa Phó, Hưng Yên. Sau khi tham học Luật tại chùa Quán Sứ, trên đường trở về miền Nam, Sư trưởng ghé Huế, giảng dạy Kinh Phạm Võng Lược Sớ cho Từ Cung Hoàng Thái Hậu trong hai tháng. Với công đức này, Vua Bảo Đại triều đình Huế ban biển vàng cho Hải Ấn Ni Tự và sắc phong cho Bình Quang Ni Tự.
Tháng 2 năm 1940, Sư trưởng làm Giáo thọ cho Ni giới tại trường Cô Ba Xàng – Sa Đéc (tức chùa Giác Linh, sau đổi tên chùa Tân Hòa). Dạy được ba tháng, chủ trường giải tán lớp học. Sư trưởng vận động đưa học sinh sang chùa Vạn An và được Hòa thượng Trụ trì cùng Phật tử ủng hộ. Sư trưởng tiếp tục dạy trọn một năm học. Thời gian này, Sư trưởng được Hội Phật học Cao Miên mời sang thuyết pháp tại Hội quán Thanh Quang, Nam Vang (Campuchia).
Đầu năm 1941, Sư trưởng được mời khai trường Ni tại chùa Linh Phước (Oai Khoa-Sa Đéc). Tuy nhiên trong năm này, sức khỏe Sư trưởng bắt đầu suy yếu nên không giảng dạy được nhiều phải về Hải Ấn Ni Tự tịnh dưỡng. Cuối năm 1941, trường bế giảng.
Do lao tâm lao lực, ngày giảng dạy, đêm đọc kinh sách nghiên cứu, lại phải lo dịch kinh, viết báo, vận động tài chánh cho ba trường Ni, Sư trưởng tổn hao nhiều sức lực nên đã thọ bệnh lao phổi, căn bệnh mà y học nước nhà vào thời gian đó không đủ khả năng điều trị. Vì vậy ngày 1 tháng 7 năm 1942, Sư trưởng viên tịch ở chùa Hải Ấn chỉ với 12 tuổi hạ, trụ thế 33 năm.
Cuộc đời của Sư trưởng như một ngọn đuốc xuất hiện giữa bầu trời tăm tối, tuy ngắn ngủi nhưng đã tỏa sáng, đủ để soi rọi con đường đi đến sự cải cách, đổi mới, phát triển, chấn hưng Ni giới, đem lại nguồn hy vọng, sự phấn chấn, tự tin trong việc đoàn kết tu học và tích cực nhập thế hoằng pháp lợi sanh của Ni giới về sau.
2. Ni trưởng Thích Nữ Huyền Tông: tấm gương hạnh đức viên dung
Ni trưởng Thích Nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 trong một gia đình khá giả tại phường Đức Thắng, Phan Thiết. Nhờ túc duyên nhiều đời nên mặc dù nhan sắc mỹ lệ và được sống trong nhung gấm, Ni trưởng không màng đến tình ái và tài lợi thế gian.
Năm 1934, lúc 16 tuổi nhân được mẹ đưa đi chùa Long Hải (Mã Loạn), Phan Thiết, Ni trưởng phát tâm xin quy y Tam bảo thọ ngũ giới với Hòa thượng Thanh Hạ Nguyên, được ban pháp danh Trừng Tấn. Từ đó, Ni trưởng âm thầm ấp ủ ý chí xuất gia. Qua năm sau, khi tròn 17 tuổi, Ni trưởng cùng người cô họ là Cố Ni trưởng Huyền Học cùng nhau trốn gia đình đi xuất gia nhưng bị phát hiện và ngăn cản. Không nản chí, năm 1935, lúc 18 tuổi, một lần nữa cả hai cô cháu lại lập kế hoạch chu đáo trốn gia đình vào Nam, thẳng đến Hải Ấn Ni Tự, xin được xuất gia với Sư trưởng Diệu Tịnh. Lo ngại gia đình tìm đến cản trở, cả hai cùng xin được xuống tóc ngay trưa hôm ấy, ngày rằm tháng 07 năm Bính Tý (03-07-1936).
Vốn đã có nền thế học vững vàng, lại được Bổn sư là Giáo thọ Ni xuất chúng tài bồi nên chỉ sau vài tháng xuất gia, cả hai cô cháu đã tương đối thông hiểu Phật pháp căn bản. Vì vậy, trong dịp lễ vía Phật Thích Ca thành đạo ngày 8 tháng Chạp cùng năm, Sư trưởng Bổn sư đã cho hai cô cháu thọ Sa di ni với pháp hiệu Huyền Tông và Huyền Học.
Năm 1938, một năm sau khi Sư trưởng Diệu Tịnh nhận chùa Bình Quang, một phần do Phật sự đa đoan ở nhiều nơi, phần khác do song thân Ni trưởng Huyền Tông rất ao ước được gần gũi con, và đặc biệt Sư trưởng Bổn sư nhận thấy sự am hiểu khá tốt về kinh luật cùng Phật pháp của hai đệ tử Huyền Tông và Huyền Học, nên cử hai Người về thay Sư trưởng kế thế Ngài đảm đương Phật sự tại địa phương. Trong Lễ vía Bồ Tát Quán Âm ngày 19 tháng 2 năm Mậu Dần (1938), Sư trưởng Bổn sư đã tổ chức giới đàn tại chùa Bình Quang cho hai đệ tử được thọ giới Thức xoa ma na. Cùng trong năm này (1938), quý Ni trưởng Huyền Huệ (chùa Hải Ấn), Huyền Phương, Huyền Cao xin vào tập sự tại chùa Bình Quang và đã được Sư trưởng Bổn Sư Diệu Tịnh cho xuất gia năm 1939 tại Bình Quang Ni tự này.
Mặc dù đảm đương trọng trách Phật sự tại Bình Quang Ni Tự, Sư trưởng Bổn sư vẫn cho phép quý Ni trưởng Huyền Tông và Huyền Học tham gia các lớp học Phật pháp tại các chùa Hải Ấn ở Gia Định, chùa Linh Phước và Vạn An ở Sa Đéc.
Năm 1940, Hai Ni trưởng được thọ Cụ túc giới tại Giới đàn chùa Vạn An, Sa Đéc.
Sau khi Sư trưởng Bổn Sư Viên Tịch (1942), Ni trưởng Huyền Học đã vào chùa Hải Ấn cùng các huynh đệ cư tang, sau đó cùng chung lo xây cất lại chùa và tháp thờ Bổn Sư (do chùa bị di dời). Phật sự khiến Ni trưởng phải luân phiên thay đổi chỗ ở giữa chùa Hải Ấn và chùa Bình Quang. Đến năm 1964, Ni trưởng mới tạm giã từ chùa Bình Quang vào thường trụ tại chùa Từ Nghiêm (Chợ lớn) để điều hành công việc của Ni Bộ Bắc Tông.
Trong khi đó, Ni trưởng Huyền Tông trụ lại tại Bình Quang Ni Tự, cả một đời người gắn bó tại đây, lo thu nhận, nuôi dưỡng đệ tử, lo các Phật sự của Giáo hội tại địa phương và đặc biệt lo xây dựng, trùng tu, kiến tạo để Bình Quang ngày một phát triển.
Năm 1945, Ni trưởng đúc tượng Bổn sư bằng đồng để thờ. Tượng hiện đang thờ tại Tổ đình đến nay. Trong năm này, Ni trưởng cũng tham gia phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945.
Năm 1949 – 1950, Ni trưởng cho trùng tu Tổ đình Bình Quang lần thứ nhất.
Năm 1951, Ni trưởng trùng kiến ngôi chánh điện Tổ đình Bình Quang thành Đạo tràng trang nghiêm cho Ni chúng và Phật tử tu tập.
Năm 1958, Ni trưởng cho sửa chửa, cải gia vi tự, trùng tu lại ngôi nhà của song thân Người hiến cúng để làm nơi tu tập có tên Tịnh Thất Liên Hoa, hiện nay là Liên Hoa Ni Tự trang nghiêm ở Hàm Thuận Nam. Nơi đây, Người cử hai đệ tử là quý Ni trưởng Như Thiện và Như Mãn điều hành Phật sự. Nhị vị Ni trưởng ở Liên Hoa Ni Tự này cũng làm rạng danh Thầy Tổ, đào tạo hơn 30 Tỳ kheo ni đức hạnh tỏa lan ra khắp các tỉnh thành, góp công sức cho Giáo hội và Phân ban Ni giới, giúp biết bao mảnh đời được thoát khỏi tăm tối, sống chan hòa, hạnh phúc trong ánh sáng từ bi của chư Phật.
Năm 1963, Ni trưởng tham gia đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo trong phong trào đấu tranh Phật giáo năm 1963.
Năm 1964, Ni trưởng đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Ni bộ Bắc tông tỉnh Bình Thuận và Quản lý trường Trung học Bồ đề – Phan Thiết.
Năm 1965, Tổ đường, Khách đường, Thiền đường, Nhà trù chùa Bình Quang lần lượt được Ni trưởng cho xây dựng, phần lớn nhờ sự phát tâm cúng dường của song thân Ni trưởng.
Với nếp sống giản dị, tính tình nhỏ nhẹ, khiêm cung, với lòng từ bi bao la độ lượng nhưng luôn nghiêm trì giới Luật, chú trọng xiển dương Tam vô lậu học giới, định, tuệ, dạy đệ tử bằng cả thân giáo, khẩu giáo nên Ni trưởng Huyền Tông được tất cả mọi người quý kính. Rất đông Phật tử tại gia đến xin quy y học đạo. Đệ tử xuất gia cũng được hơn 30 vị, hiện đang trụ trì gần như hầu hết các chùa Ni tại Phan Thiết, Bình Thuận và rải rác nhiều tỉnh thành trong nước.
Năm 1992, lúc 75 tuổi, sức khỏe Ni trưởng sa sút nên Người giao lại chức vị trụ trì cho đệ tử là Ni trưởng Thích Nữ Như Tâm tiếp nối đảm đương Phật sự. Người lui về,miên mật chuyên trì chú và niệm Phật cầu vãng sanh về cõi Phật A Di Đà.
Rạng sáng ngày mùng 8.7. Giáp Ngọ (3.8.2014), Ni trưởng đã viên tịch tại Tổ đình Bình Quang Ni Tự, trụ thế 96 năm với 76 hạ lạp, lưu lại làm kỷ niệm cho đời tập bút ký “Vì sao tôi đi tu” và tập thơ “Huyền Tông thi tập”
Ni trưởng Thích Nữ Huyền Tông, bậc cao đức trong hàng Ni giới hiện đại, cũng lưu lại cho đời và cho đạo một tấm gương đức hạnh viên dung thật đáng trân trọng kính ngưỡng.
3. Ni trưởng Huyền Học: bậc chân tu một đời nghiêm trì giới luật
Ni trưởng thế danh Huỳnh Thị Phụng, sinh năm Canh Thân (1920) tại phường Đức Thắng, Phan Thiết, Bình Thuận trong một gia đình kính tin Phật. Thường được đi chùa từ rất trẻ nên Ni trưởng sớm nhận ra cuộc đời vô thường và nuôi chí nguyện xuất trần. Do thân thiết với người cháu họ (là Ni trưởng Huyền Tông) có cùng chí hướng nên Ni trưởng nán lại để chờ đợi cơ hội cùng cháu trốn nhà xuất gia.
Năm 1936, Ni trưởng cùng người cháu đủ duyên xuất gia với Sư trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn Ni Tự ở Tân Sơn Nhất, Gia Định, được Bổn Sư ban pháp húy là Nhật Tân, tự Huyền Học, hiệu Như Nghiêm và được thọ Sa di ni giới tại chùa Hải Ấn cuối năm 1936.
Năm 1938, Ni trưởng được Bổn Sư cho về Phan Thiết, cùng Ni trưởng Huyền Tông thay Thầy đảm đương Phật sự tại Bình Quang Ni Tự. Cùng năm này, Ni trưởng được thọ Thức xoa ma na.
Trong thời gian ở với Bổn sư và ngay cả ở chùa Bình Quang, Phan Thiết, Ni trưởng vẫn được Bổn Sư cho theo học tại các lớp Phật học ở chùa Hải Ấn (Gia Định), Linh Phước, Vạn An (Sa Đéc). Các lớp này đều do Bổn Sư làm Giáo thọ.
Năm 1940 Ni trưởng được Bổn Sư cho thọ Cụ túc giới ở giới đàn chùa Vạn An, Sa Đéc.
Năm 1941 Ni trưởng được theo học tại chùa Linh Phước Sa Đéc
Năm 1942, Sư trưởng Bổn sư viên tịch, Ni trưởng ở chùa Hải Ấn cư tang một thời gian, sau đó về lại chùa Bình Quang, rồi tham học với Hòa thượng Giác Phong chùa Hải Đức, Nha Trang.
Từ năm 1942-1952, Ni trưởng được giao chức vụ Tổng Thư ký Giáo hội Cổ Sơn Môn, Bình Thuận.
Năm 1945, vì nhu cầu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất nên chùa Hải Ấn bị di dời đến địa điểm ngày nay. Ni trưởng phải trở lại chùa Hải Ấn, cùng các huynh đệ lo di dời xây dựng Hải Ấn Ni Tự mới và lập lại tháp thờ nhục thân Bổn sư. Cũng trong năm 1945 này, khi cuộc kháng chiến chống Pháp trên toàn quốc bùng nổ, Ni trưởng đã tham gia đoàn nữ cứu thương của tỉnh nhà.
Năm 1952-1963, Ni trưởng đảm nhận chức Cố vấn Giáo hạnh cho Gia đình Phật tử tỉnh Bình Thuận và dạy giáo lý cho trường Trung học Bồ đề tại Phan Thiết.
Năm 1963, Ni trưởng cùng chư Tăng Ni Phan Thiết tham gia đấu tranh đòi quyền tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo.
Nnăm 1964, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Viện Hóa Đạo cử Ni trưởng làm Vụ Trưởng Ni bộ Bắc tông, thuộc Tổng vụ Tăng sự nhiệm kỳ đầu từ năm 1964-1968. Ni trưởng phải từ giã từ Bình Quang Ni Tự về chùa Từ Nghiêm (Chợ Lớn) là Trụ sở Ni bộ Bắc tông Trung ương để cùng quý Ni trưởng điều hành Phật sự.
Năm 1967, Ni trưởng tham gia phái đoàn Ni Bộ Bắc Tông đi thăm các nước Phật giáo như Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan.
Năm 1968, sau khi mãn nhiệm kỳ Vụ Trưởng Ni Bộ Bắc Tông, Ni trưởng được Tổng vụ Giáo dục cử làm Giám Viện Ni trường Dược Sư (Gia Định) trong hai khóa từ năm 1968-1974. Cũng trong thời gian này, Ni trưởng điều hành giảng dạy Ni chúng thuộc hai lớp Trung đẳng Phật học chuyên khoa khóa I và II. Quý Ni trưởng tham gia trong Giáo Hội bây giờ hầu hết đều xuất thân từ hai khóa học này. Năm 1974, sau khi mãn nhiệm Giám Viện Phật Học Ni Trường Dược Sư, Ni trưởng đã cầu pháp với Hòa Thượng thượng Thanh hạ Từ, đã nhập thất 3 năm (1974-1977) tại Thiền thất Tổng Trì, Vũng Tàu.
Từ năm 1977 về sau, Ni trưởng về tịnh tu tại Tịnh thất Tịnh Quang, Tân Thới Nhất, quận 12, TP Hồ Chí Minh trên phần đất của người em gái trong gia đình. Tại đây, dù tịnh tu nhưng Ni trưởng vẫn dành thời gian dạy luật cho ni chúng và hướng dẫn Phật tử học Phật pháp, tu Bát quan trai.
Năm 1988, Ni trưởng đã khuyến hóa người em cúng dường phần đất để xây dựng chùa Vĩnh Phước. Ni trưởng làm Viện chủ, Ni Sư Như Hoa Trụ Trì. Chùa Vĩnh Phước sau đó trở thành ngôi chùa rộng rãi, trang nghiêm, có cảnh quang tươi mát, có Ni chúng thường trụ sáu, bảy mươi người, làm Trường hạ hàng năm cho chư Ni trong quận, rồi trong thành phố đến An cư kiết hạ, là nơi Phật tử đến thọ Bát quan trai mỗi tháng với con số lên đến bảy tám trăm người.
Với giới đức trang nghiêm, thanh tịnh, lại là một bậc mô phạm đạo hạnh, trì luật nên từ những thập niên 1960- 1990, Ni trưởng đều dự vào hàng Tam Sư trong các Đại Giới Đàn truyền giới cho các giới tử Ni. Hàng ngàn Ni chúng đã được giới thể châu viên, huệ mạng tăng trưởng, làm chánh nhân giải thoát trong đạo nghiệp.
Ni trưởng còn được cung thỉnh làm Cố vấn Ban Đại Diện Phật Giáo quận 12 cho đến ngày viên tịch.
Cuối năm 1992, Đại hội Phật giáo toàn quốc lần III tổ chức tại Hà Nội đã suy cử Ni trưởng làm Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam nhiệm kỳ III (1992- 1997) cho đến ngày viên tịch.
Năm 1994, Ni trưởng lâm bệnh, Người lui về tịnh dưỡng ở chốn cũ chùa xưa, và viên tịch vào lúc 00:05 ngày Rằm tháng Giêng năm Ất Hợi (14.02.1995) tại Tổ Đình Bình Quang, Phan Thiết, trụ thế 76 năm với 56 hạ lạp
Những ngày gần cuối đời, Ni trưởng nhắn nhủ đệ tử và chư Ni trong tông môn nên tổ chức lễ tang cho Ni trưởng đơn giản, nhanh gọn, không kết xe hoa, không làm kỷ yếu… Để tiết kiệm tài vật và công sức của Ni chúng.
Cả cuộc đời của Ni trưởng từ lúc xuất gia đến khi viên tịch luôn sống với hạnh nguyện lợi tha. Người sống đơn giản, nghiêm trì giới luật, nghiêm túc trong từng oai nghi cử chỉ, làm bậc mô phạm cho Ni chúng trong cả thân và khẩu giáo. Người chuyên chú nghiên tầm kinh điển, ra sức thực hành công phu tu tập không mỏi mệt, lấy kinh nghiệm tu tập của bản thân để truyền tải, giáo dưỡng Ni chúng với tâm nguyện mong muốn Ni giới ngày càng phát triển, hưng thịnh, tốt đẹp như bản hoài của vị Thầy Bổn Sư đáng kính truyền trao.
4. Ni trưởng Như Tâm: Đệ tam trụ trì
Ni trưởng Thích Nữ Như Tâm là đệ tử lớn của nhị vị Ni trưởng Huyền Tông và Huyền Học, là người kế thế thừa hành Phật sự tại Bình Quang Ni Tự khi nhị vị Ni trưởng Bổn Sư suy yếu sức khỏe.
Ni trưởng thế danh Nguyễn Thị Nguyên, sinh năm 1940 tại Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình Phật tử thuần thành. Từ nhỏ, Ni trưởng đã thường theo song thân đến chùa nên có lòng cảm mến Phật Pháp, nảy nở ý chí xuất trần. Năm 14 tuổi (Giáp Ngọ – 1954), Ni trưởng xin phép song thân, bái tạ mẹ cha cho phép xuất gia học đạo. Ni trưởng vào Phan Thiết, đến Bình Quang Ni Tự xin xuất gia thọ giáo với nhị vị Ni trưởng Huyền Tông, Huyền Học, được Bổn sư ban pháp danh Lệ Trinh tự Huệ Chơn, hiệu Như Tâm.
Ni trưởng được Bổn sư cho thọ giới Sa-di-ni tại Đại Giới đàn chùa Ấn Quang, thôn Vườn Lài, Chợ Lớn năm 1956, thọ giới Thức xoa ma na năm 1958 cũng trong Đại Giới đàn tại chùa Ấn Quang này và cùng gặp Hòa Thượng thượng Thiện hạ Hoà làm đàn đầu.
Năm 1965, Ni trưởng Nam tiến tham học Phật pháp tại Ni trường Dược Sư, Gia Định và được Bổn sư cho phép thọ Đại giới tại Giới trường Từ Nghiêm – Sài Gòn
Năm 1968, Ni trưởng theo học tại Ni viện Diệu Quang tỉnh Khánh Hòa
Trong suốt thời gian gần 10 năm nghiên tầm bối diệp, Ni trưởng được học Giáo điển, Kinh, Luật, Luận với chư Tôn đức Tăng già như: Hòa thượng Thiện Siêu, Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Đổng Minh, Hòa thượng Đôn Hậu. Ngoài ra, Ni trưởng còn được giáo dưỡng trực tiếp từ nhị vị Ni trưởng Bổn Sư không những về kinh điển, giới luật mà còn được tài bồi về kinh nghiệm, kiến thức xử thế, oai nghi tế hạnh…, nhờ vậy Ni trưởng được trang bị đầy đủ hành trang, tư lương của một sứ giả Như Lai để thừa đương Phật sự, làm rạng rỡ tông phong, trùng quang tổ ấn.
Năm 1982, Ni trưởng tham gia vào Uỷ ban Vận động Thành lập GHPGVN tỉnh Thuận Hải. Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh nhà được thành lập, Ni trưởng được đề cử đảm trách chức vụ Trưởng ban Văn hóa trong 2 nhiệm kỳ 1981 và 1990.
Từ năm 1982 đến năm 1990, Ni trưởng giữ chức vụ Đặc ủy phụ trách Ni giới thuộc Ban Tăng sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Thuận Hải.
Từ năm 1989, Ni trưởng tham gia làm Uỷ viên Uỷ Ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thuận Hải và Bình Thuận cho đến năm 2003.
Năm 1991, Ni trưởng được Bổn Sư giao phó chức vụ trụ trì Bình Quang Ni Tự để truyền đăng tục diệm, tiếp nối mạng mạch Phật pháp, thu nhận đệ tử, hoằng hóa lợi sanh.
Năm 1994, trong Đại Giới đàn Bảo Tạng do Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh Bình Thuận tổ chức, Ni trưởng được thỉnh vào vị trí Yết ma A xà lê
Năm 2004, Ni trưởng cùng với quý Tôn đức môn phong Bình Quang phát tâm đặt đá trùng kiến ngôi Tổ đình Bình Quang và nhiều hạng mục khác để ngôi phạm vũ được trang nghiêm, tố hảo như hiện tại.
Năm 2007, Ni trưởng đảm nhiệm chức vụ Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Bình Thuận, thành viên phân ban Ni giới Trung ương Khoá VI, nhiệm kỳ 2007 – 2012.
Năm 2015, Ban trị sự GHPGVN tỉnh Bình Thuận tổ chức Đại Giới đàn Nguyên Hương tại Tòng Lâm Vạn Thiện, Ni trưởng được cung thỉnh vào ngôi vị Hòa thượng Ni Đường đầu truyền giới Tỳ kheo ni.
Từ năm 2017 đến năm 2022, Ni trưởng được Phân ban Ni giới Trung ương cung thỉnh vào chức vị Cố vấn Phân ban Ni giới Trung ương thuộc Ban Tăng sự GHPGVN và Giáo phẩm Chứng minh Phân ban Ni giới Tỉnh Bình Thuận.
Từ năm 2023, sức khỏe Ni trưởng bắt đầu sa sút. Ni trưởng đã xả báo an tường lúc 00 giờ 40 phút, ngày 06 tháng 06 năm Ất Tỵ (nhằm ngày 30 tháng 06 năm 2025), trong tiếng niệm Phật của Ni chúng, trụ thế 86 năm, trải qua 60 mùa An cư kiết hạ, đóng góp cho Giáo hội hơn 50 Ni chúng Tỳ kheo ni đệ tử đã trưởng thành, đã trụ trì nhiều ngôi Ni tự và đảm trách nhiều Phật sự của Giáo hội Phật giáo trong nước và ở hải ngoại. Ni sư Thích Nữ Hạnh Lý, đệ tử của Ni trưởng đang kế thừa Phật sự tại Bình Quang hiện nay.
III. Quý Ni trưởng xuất thân từ Bình Quang Ni tự: truyền trì suối pháp, thừa hành phật sự
- Đệ tử Sư Trưởng Diệu Tịnh
- Ni trưởng Huyền Huệ: (1924-2015) Bậc long tượng của Ni giới hiện đại
Ni trưởng Thích Nữ Huyền Huệ sinh tại Phan Thiết, vào chùa Bình Quang từ năm 14 tuổi, xuất gia với Sư trưởng Diệu Tịnh năm 1939, được Bổn Sư ban pháp danh Huyền Huệ, húy Nhật Định, hiệu Như Huyền. Ni trưởng được nhị vị Đại tỷ và Bổn Sư giáo dưỡng tận tình, chỉ dạy căn kẻ và được cho tham học các lớp Phật học đương thời nên oai nghi đỉnh đạc, đạo phong cốt cách, Phật pháp thông tuệ. Do vậy lúc theo học ở Ni trường Dược Sư năm 1952, khi chỉ tròn 28 tuổi, Ni trưởng đã được cử làm Tri chúng của Ni Trường. Năm 32 tuổi, khi Đại hội Ni bộ Nam Việt khai mở, Ni trưởng được cử làm Tổng thư ký.
Năm 1959, chùa Từ Nghiêm được chọn làm trụ sở Ni bộ bắc Tông, Ni trưởng trong Ban Kiến thiết và Quản trị, kiêm Giáo thọ Ni. Khi Ni Bộ Bắc Tông ra đời năm 1964, Ni trưởng được cử làm Trưởng Ban Hoằng Pháp và Giáo dục.
Năm 1963, Ni trưởng được cử làm trụ trì Hải Ấn Ni Tự Từ năm 1968-1971, Ni trưởng làm Giám học, ở trong Ban Giám Đốc của Ni trường Dược Sư, Gia Định
Năm 2009, Phân ban Ni giới Trung ương tổ chức Đại hội đầu tiên tái lập hoạt động Ni giới, Ni trưởng được cử làm Trưởng Phân Ban Ni Giới.
Trong suốt sự nghiệp tu học, hoằng pháp hơn hai phần ba thế kỷ, Ni trưởng luôn là bậc mô phạm xuất chúng, luôn chuyên tâm đến vấn đề giáo dục, tu học và gìn giữ phẩm hạnh của Ni giới trong thời đại mới. Ni trưởng luôn mở các lớp gia giáo dạy kinh, luật cho chúng Ni, tiếp nối gia phong Thầy Tổ truyền lại. Với phong thái uy nghi, đạo phong đỉnh đạc, Ni trưởng lấy giới luật làm kim chỉ nam cho các hoạt động tu học hàng ngày, lấy trí tuệ và từ bi để ứng xử với Ni chúng nên luôn được sự kính ngưỡng và được thỉnh vào hàng Tam Sư trong các Đại Giới đàn tại các chùa Từ Nghiêm, Huê Lâm, Dược Sư…
Sáng ngày Rằm tháng Bảy năm Ất Mùi (2015), bậc long tượng của Ni lưu đất Việt đã viên tịch tại chùa Hải Ấn, hưởng 92 thế tuế và 71 hạ lạp, để lại cho hậu thế một công trình Kinh, Luật phiên dịch, một tuyển tập bài giảng và hơn chục vị đệ tử đã thành tựu đạo nghiệp, là những cộng sự tích cực trong GHPGVN và PBNG.
- Ni trưởng Huyền Phương: (1920-2008) Bậc chân tu thầm lặng
Ni trưởng Thích Nữ Huyền Phương sinh tại phường Đức Thắng, Phan Thiết, Bình Thuận trong gia đình kính tin Phật pháp nên từ năm 14 tuổi đã được song thân cho quy y với Hòa Thượng thượng Thục hạ Huệ ở Tổ đình Linh Sơn Trường Thọ – núi Tà Cú.
Năm 1939, khi tròn 19 tuổi, Ni trưởng xin xuất gia với Sư trưởng Diệu Tịnh, chùa Hải Ấn, được Bổn sư ban pháp danh Nhật Quang.
Năm 1940, Ni trưởng thọ giới Sa di ni với pháp tự Huyền Phương và nhập chúng tu học tại chùa Bình Quang cho đến năm 1965. Năm này, Ni trưởng xin phép được vào Sài Gòn học giáo pháp với Hòa Thượng thượng Hành hạ Trụ và nhập chúng tu học tại chùa Kim Liên quận 4. Đến năm 1972, Ni trưởng về lại Bình Quang Ni Tự tu tập và hành trì giới luật tinh nghiêm.
Năm 1992, Ni trưởng được Ban Giám Hiệu Trường Cơ bản Phật học Bình Thuận cung thỉnh đảm trách quản chúng Ni nội trú tại chùa Minh Châu, Phan Thiết.
Năm 1994, Ni trưởng được cung thỉnh trụ trì chùa Phước Tường, Phan Thiết và tiếp tục đảm trách quản lý Ni chúng trường Cơ bản Phật học Bình Thuận nội trú tại chùa Phước Tường cho đến ngày viên tịch 29 tháng 5 năm Mậu Tý (2008), trụ thế 89 năm, 64 hạ lạp.
Hiện nay, Ni trưởng Huệ Nhẫn, một trong những đệ tử của Ni trưởng tiếp tục Phật sự của Bổn Sư, trụ trì chùa Phước Tường, nuôi dưỡng Ni chúng học ni và nuôi thêm trẻ mồ côi.
- Đệ tử nhị vị Ni trưởng Huyền Tông, Huyền Học
Sáu trong hơn 30 vị đệ tử xuất gia của nhị vị Ni trưởng đã viên tịch (bao gồm Ni trưởng Như Tâm) là những pháp khí trong ngôi nhà Phật pháp, đã góp sức cho GHPGVN, PBNG tại các địa phương như sau:
- Ni trưởng Như Tâm: Nguyên Trụ Trì Bình Quang Ni Tự như đã đề cập phần trên
2. Ni trưởng Huệ Đức: (1938-2014)
Ni trưởng pháp tự Huệ Đức, húy Diệu lệ, hiệu Như Hạnh, xuất gia năm 19 tuổi (1957), thọ cụ túc giới năm 1965. Ni trưởng là người đức hạnh, nghiêm trì giới luật, hòa nhã, khiêm cung và rất hiếu học nên được Bổn Sư cho học hết Tú tài 2 và bước vào Đại học Vạn Hạnh năm 1972. Sau năm 1975, Ni trưởng xin phép Bổn Sư, rời Phan Thiết để được ẩn tu an lạc trên trụ xứ Phú An, làng chùa Đức Trọng, Lâm Đồng. Tại đây Ni trưởng khai sơn và trụ trì tịnh thất Hương Vân, làm địa điểm giảng dạy kinh, luật cho Ni chúng trong trụ xứ. Năm 2001, Ni chúng tại đây phát triển, hưng thịnh nên không đủ chỗ Bố tát, Ni trưởng vận động một số quý Tôn đức Ni trong làng chùa, khai sơn Đạo tràng Long Châu làm nơi bố tát mỗi nửa tháng và nơi an cư kiết hạ hàng năm cho Ni chúng không những trong làng chùa mà còn hội tụ hơn 300 chư ni cả huyện Đức Trọng. Chùa Đạo tràng Long Châu này cũng là nơi Ni chúng đến sinh hoạt, nghe giảng, học kinh, luật, nghi lễ, đặc biệt trong ba tháng hạ. Một trong số hơn 10 đệ tử của Ni trưởng là Ni Sư Huệ Phúc đã tiếp nối Thầy Tổ, trùng tu và xây dựng thêm một số công trình để hoàn thiện ngôi chùa được trang nghiêm và tiện nghi như hiện tại.
Ni trưởng viên tịch rạng sáng ngày mùng 8 tháng 6 năm Giáp Ngọ (2014), trải qua 50 hạ lạp, hưởng thọ 77 thế tuế.
3. Ni trưởng Như Đạo: (1936-2013)
Ni trưởng xuất gia tại Bình Quang Ni Tự năm 1958, thọ Sa di ni năm 1959 được Bổn Sư ban pháp tự Huệ Tấn, hiệu Như Đạo. Ni trưởng thọ giới Tỳ kheo ni năm 1965. Với bản tính vui vẻ, cởi mở nên Ni trưởng được Bổn Sư cho đi học khóa Sư phạm mẫu giáo (1968-1969) tại Phan Thiết để rồi phụ trách chức vụ Hiệu Trưởng của hai Trường Kiều Đàm do chùa Bình Quang thành lập. Ni trưởng cũng được theo học Trung cấp Phật học tại Ni viện Diệu Quang, Nha Trang (1969-1970). Những năm 1970-1974, Ni trưởng thường được theo Ni trưởng Huyền Học về Thường Chiếu học pháp với Hòa Thượng Thanh Từ. Từ nhân duyên này, năm 1980, Ni trưởng xin phép Bổn Sư cầu pháp với Hòa Thượng rồi rời Bình Quang về thành lập Thiền Viện Liễu Đức tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, Đồng Nai. Trong thời gian ở tại đây, từ năm 1992-2004 Ni trưởng làm Giáo thọ và Quản viện điều hành khóa II, III, IV của trường Trung Cấp Phật Học và các lớp Phật pháp ở các chùa: Pháp Hoa, Ni viện Bửu Hoa, chùa Giác Minh, chùa Bạch Liên tỉnh Đồng Nai, đồng thời cũng là Giáo thọ dạy Luật cho các Thiền viện Huệ Chiếu, Phổ Chiếu thuộc tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu…
Từ năm 2005, sức khỏe Ni trưởng suy yếu nên nghỉ giảng dạy. Ni trưởng viên tịch ngày 28.10 năm Quý Tỵ (2013) tại TV Liễu Đức, đóng góp cho Giáo hội PG và PBNG hơn 100 Ni chúng đệ tử xuất gia, trong đó nhiều vị trở thành rường cột trong ngôi nhà chánh pháp.
4. Ni trưởng Như Như: (1942-2023)
Ni trưởng sinh tại Phường Bình Hưng, Phan Thiết. Gia đình gần kề Bình Quang Ni Tự nên từ thuở nhỏ, Ni trưởng đã thường xuyên vào chùa công quả, quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới, làm đệ tử Ưu bà di của nhị vị Ni trưởng, được ban Pháp danh Lệ Chơn. Năm 1964, Ni trưởng chính thức xin xuất gia, được Bổn Sư cho thọ Sadini giới năm 1965, thọ Thức Xoa ma na năm 1970 và Tỳ kheo ni năm 1972.
Với bản tính chân thật, dịu dàng, nhỏ nhẹ, lại rất chu đáo, cẩn thận và chí thành hiếu kính nên Ni trưởng được chọn làm thị giả của Bổn Sư Huyền Tông. Ni trưởng đã đảm đương chu toàn trách nhiệm này suốt 20 năm, cho đến năm 1992 khi được cử làm Phó trụ trì chùa Bình Quang kiêm nhiệm chức vụ Tri chúng.
Trong chùa, Ni trưởng được tất cả mọi người từ tại gia đến xuất gia quý kính như người mẹ hiền vì Người có lòng từ bi bao la, hết sức độ lượng, chuyên tâm chăm sóc, hoan hỉ cởi mở, sẻ chia, hướng dẫn tận tình mọi tình huống cho các Phật tử hay các sư cháu, nhất là các cô mới vào chùa tập sự.
Ngoài Giáo Hội địa phương, Ni trưởng được chư Tăng già nhị bộ cảm mến, tin tưởng giao phó các công tác Phật sự như: Ủy viên Ban Từ thiện Xã hội TƯ, Trưởng Ban Từ Thiện và Thủ Quỹ BTSGHPGVN tỉnh Bình Thuận, Ủy viên Phân ban Ni giới tỉnh Bình Thuận…
Cả một đời Ni trưởng gắn bó với Bình Quang Ni Tự và cũng xả báo thân tại đây ngày mùng 8 tháng 2 năm Quý Mão (2023), trụ thế 82 năm, 51 hạ lạp.
5. Ni trưởng Như Hương: (1952-2022)
Ni trưởng sinh ra tại Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận trong gia đình Phật tử thuần thành, đã được song thân đưa đi chùa và quy y từ nhỏ với pháp danh Đồng Quang. Ni trưởng xuất gia tại Bình Quang Ni Tự năm 1969, được Ni trưởng Bổn Sư cho giữ lại pháp danh. Ni trưởng thọ sa di ni năm 1972 và được Bổn Sư cho theo học trường Trung Đẳng Phật Học viện Nguyên Hương tại Phan Thiết Bình Thuận và thọ Thức xoa ma na năm 1974 với pháp tự Huệ Hương. Năm 1977, Ni trưởng thọ Tỳ kheo ni với pháp hiệu Như Hương. Với bản chất thông minh, hiếu học và có nền tảng Phật học cũng như thế học vững chắc nên Ni trưởng được Bổn Sư cử làm Giáo thọ Ni để giúp Người giảng dạy các lớp gia giáo trong chùa cho các sư đệ trẻ.
Năm 1992, được Bổn Sư cho phép, Ni trưởng đến Đà lạt tiếp nhận ngôi chùa làng Tịnh Quang đơn sơ tại phường 11, Đà Lạt (cũ). Ni trưởng đã gắn bó tại đây đến ngày viên tịch (16.8. Nhâm Dần – 2022, 71 tuế thế và 45 hạ lạp), đã trùng kiến ngôi chùa trở thành ngôi phạm vũ uy nghiêm, tráng lệ, đã tổ chức nhiều khóa tu, hoằng pháp, từ thiện…, thu nhận hầu hết người dân địa phương đến quy y, tham dự, đã trở thành một cộng sự cần mẫn cho GHPGVN và PBNG thành phố Đà Lạt cũng như tỉnh Lâm Đồng. Những chức vụ Ni trưởng từng được suy cử như sau:
- Ủy viên Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Đà Lạt khóa 8.
- Ủy viên Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Lâm Đồng khóa 9.
- Phó Phân ban Ni giới tỉnh Lâm Đồng khóa
- Hội Đồng Nhân Dân Phường 11, TP Đà Lạt.
Một trong 8 đệ tử Tỳ kheo ni của Ni trưởng là Ni Sư Thích Nữ Bảo Trang đang kế thừa ngôi vị trụ trì chùa Tịnh Quang này.
- Ni trưởng Như Thị: (1937-2004), húy Trừng Chí
– Tự Diệu Niệm – nguyên trụ trì chùa Kim Sa, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận. Đệ tử kế thừa trụ trì hiện tại là Ni sư Thích Nữ Tâm Hòa.
Không kể đến những vị Ni trưởng đệ tử chuyên ở ẩn độc thân hoặc cùng sống chung với chùa một số huynh đệ để tựa nương tu tập, còn lại rất đông đệ tử đương thời của nhị vị Ni trưởng Huyền Tông, Huyền Học vẫn còn trụ trì các tự viện và vẫn đảm đương các Phật sự trong GHPGVN và PBNG gồm:
7. Ni trưởng Thích Nữ Như Thiện: (1941)
Ni trưởng sinh năm 1941 tại Bình Định. Năm 17 tuổi (1958) vào Bình Quang Ni Tự xin xuất gia với pháp tự Huệ Thiện – hiệu Như Thiện. Ni trưởng được Bổn Sư quan tâm giáo dưỡng và cho theo học hơn 5 năm tại lớp Trung Đẳng Phật Học Ni Trường Dược Sư, Sài Gòn từ 1969-1975. Năm 1989, được sự tín nhiệm của Bổn Sư, Ni trưởng được cử trụ trì Tịnh thất Liên Hoa, nay là Liên Hoa Ni Tự ở Hàm Mỹ, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận. Ni trưởng cũng từng tham gia làm Giáo thọ Ni môn Luật của Trường Trung cấp Phật Học Bình Thuận từ khóa 1 đến khóa 7.
Năm 1989, Ni trưởng đã được sư đệ là Ni trưởng Như Mãn cùng về nơi đây hỗ trợ Phật sự, góp phần trùng kiến tịnh thất trở thành ngôi chùa bề thế, rộng rãi và trang nghiêm như ngày nay. Nhị vị huynh đệ Ni trưởng cũng đã hoằng hóa hàng trăm Phật tử tại gia về quy y Tam bảo, đào tạo góp sức cho GHPGVN và PBNG gần 40 Tỳ kheo ni đệ tử. Nhiều vị trong số này đã trở thành những hạt nhân nòng cốt trong đội ngũ nhân sự của GHPGVN cũng như của PBNG địa phương.
- Ni trưởng Thích Nữ Như Nhơn, tự Huệ Nhơn, hiệu Như Nhơn, hiện đang trụ trì chùa Phổ Minh, Phan Thiết.
- Ni trưởng Thích Nữ Như Minh, tự Huệ Minh, hiệu Như Minh, được Ni trưởng Huyền Học cử làm trụ trì chùa Bảo Tạng Quận 12 cho đến nay.
- Ni trưởng Tâm Lương, tự Huệ Tri, Hiệu Như Tri, được Bổn Sư cho vào tu học tại Ni trường Từ Nghiêm và ở đó suốt 20 năm, từ 1972-1992. Năm 1992, Ni trưởng được thỉnh trụ trì chùa Từ Ân Quận 10 cho đến ngày nay.
- Ni trưởng Tâm Hương, tự Huệ Phương, hiệu Như Phương sinh năm 1948 tại Quảng Ngãi. Năm 1967 vào tu học tại tổ đình Bình Quang, được nhị vị Bổn Sư cho theo học trường Trung Đẳng Phật Học Viện Nguyên Hương, Phan Thiết Bình Thuận và được Phật tử cung thỉnh về trụ trì chùa Hưng Long, Phan Thiết từ 1987 cho đến nay.
- Ni trưởng Nguyên Mỹ, tự Huệ Trí, hiệu Như Trí, sinh năm 1951 tại Thừa Thiên Huế. Năm 1969 được quý Hòa Thượng gửi vào tu học tại Tổ Đình Bình Quang. Năm 1972 được nhị vị Bổn Sư cho theo học trường Trung Đẳng Phật Học Viện Nguyên Hương taị Phan Thiết Bình Thuận và được Phật tử thỉnh về Trụ trì Chùa Thiền Quang từ năm 1990 cho đến nay. Ngoài ra Ni trưởng còn khai sơn Phật Quang Ni Tự ở xã La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận từ năm 2007 và hiện tại vẫn kiêm nhiệm trụ trì hai ngôi Tam Bảo.
- Ni trưởng Tâm Ngạn, tự Huệ Phước, hiệu Như Phước, trụ trì chùa Hoa Nghiêm, Đức Linh, Bình Thuận từ 1995 đến nay.
- Ni trưởng Nguyên Phương, tự Huệ Hạnh, hiệu Như Hạnh, sinh năm 1953 tại Thừa Thiên Huế. Năm 1969 được quý Hòa Thượng gửi vào tu học tại Tổ Đình Bình Quang. Năm 1990 được quý Phật tử thỉnh về trụ trì Chùa Xuân Quang, Phan Thiết cho đến nay.
- Ni trưởng Quảng Lan, tự Huệ Hạnh, hiệu Như Hạnh, sinh năm 1956 tại Gia Định. Rất có duyên với chùa Dược Sư, quận Gò Vấp nên từ lúc còn nhỏ, Ni trưởng thường vào đây lễ Phật rồi xin cha mẹ xuất gia tại đây khi mới 13 tuổi (năm 1969), được Bổn Sư Huyền Học thế độ và cho thọ giới Sa di ni năm 1972. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Ni trưởng được Bổn Sư cho theo học Trung Đẳng Phật học tại Ni trường Dược Sư. Lúc Bổn Sư nhập thất tại Tịnh thất Tổng Trì, Vũng Tàu, Ni trưởng được theo làm thị giả cho Người. Năm 1977, Ni trưởng theo Bổn Sư về lại Sài Gòn nhưng được cho phép ở, học tại Ni trường Dược Sư. Ni trưởng thọ giới Cụ Túc năm 1980, sau đó được theo học trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 2 (tại thiền viện Vạn Hạnh- TP.HCM) khóa II. Năm 2005, Ni trưởng sang định cư ở thành phố Santa Ana, bang California, Hoa Kỳ, trụ trì chùa Vạn Hạnh cho đến nay.
- Ni trưởng Thích Nữ Như Mỹ hiện đang trụ trì chùa Long Hoa, Định Quán, Đồng Nai.
- Ni trưởng Đồng Loan, tự Huệ Mãn, hiệu Như Mãn, là Phó trụ trì Liên Hoa Ni Tự từ 1989 đến nay.
- Ni trưởng Nguyên Phong, tự Huệ Hải, hiệu Như Hải, nguyên Trưởng Phân ban Ni giới tỉnh Bình Thuận khóa (2022-2027). Sau khi sáp nhập Bình Thuận vào tỉnh Lâm Đồng, Ni trưởng đang là Chứng minh Phân ban Ni giới tỉnh. Ni trưởng trụ trì Chùa Pháp Bảo, Phan Thiết từ năm 1990 đến nay.
- Ni trưởng Đồng Viên, tự Huệ Thông, hiệu Như Thông, được Phật Tử thỉnh về trụ trì chùa Quảng Đức, Đức Linh, Bình Thuận từ năm 1994 cho đến nay.
- Ni trưởng Quảng Sắc, tự Huệ Không, hiệu Như Không, hiện đang trụ trì chùa Tân Đức, Lagi, Bình Thuận từ 1994 đến nay.
- Ni Sư Thích Nữ Như Duyên, xuất gia tại Bình Quang Ni tự năm 15 tuổi. Năm 1996, theo cha mẹ xuất ngoại tại Úc Châu, khai sơn và trụ trì chùa Phật Quang tại thành phố Melbourne.
- Ni Sư Thích Nữ Chân Kim, xuất gia tại chùa Bình Quang, theo thân nhân sang Mỹ, hiện đang trụ trì chùa Quan Âm ở Los Angeles, California.
IV. Kết luận:
Từ hơn 30 chư Ni đệ tử khởi nguyên từ mạch nguồn Bình Quang Ni Tự này, hàng trăm Ni chúng lại được sinh khởi, được đào tạo, tài bồi khiến tông môn của chùa Bình Quang tiếp tục nối dài, thêm nhánh, trải rộng ra khắp các tỉnh thành trên toàn quốc và một số nơi ở hải ngoại, góp sức với Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh thành cũng như Phân ban Ni giới Trung ương và địa phương.
Bình Quang Ni Tự như thế quả thật là nguồn mạch mạnh mẽ, khởi tuôn dòng nước trong sạch, thanh tịnh, tỏa khắp muôn nơi, làm lợi ích biết bao chúng sanh được uống và tắm gội trong nguồn pháp nhũ cao quý, góp phần tưới tẩm, phát triển những cây Bồ đề xanh tươi, để góp phần tỏa rợp bóng mát cho chúng sanh nương nhờ giữa cuộc đời nóng rát đầy dẫy phiền não, sân si, tham dục …
TKN. Huệ Thiện – Liên Hoa Ni Tự
- com/binhthuanbuddhistcommunity/pots/chua-binh-quang-ni-tu-
- Nhận diện những ngôi chùa xưa ở Nam bộ qua “Gia Định Thành Thông Chí”, vn/“Đất Gia Định có 5 trấn khác nhau: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Ở trong trấn ấy xứ sở danh mục vẫn cũng nhiều, mà thổ nhãn thường nói thì chỉ gọi đất Biên Hòa là Đồng Nai, Bà Rịa; gọi đất Phiên An là Bến Nghé, Sài Gòn; gọi đất Định Tường là Vũng Gù, Mỹ Tho; gọi đất Vĩnh Thanh là Long Hồ, Sa Đéc; gọi đất Hà Tiên là Cà Mau, Rạch Giá” – Lý Việt Dũng/ Báo Giác Ngộ
- Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, TKN Thích Như Nguyệt, NXB Tôn Giáo, 2007, tr.98
- Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, sđd, 98 ; Chùa Tôi Bình Thuận’s Post
- Hành Trạng Chư Ni Việt Nam , sđd, 96-101
- Hành Trạng Chư Ni Việt Nam, sđd, phần Phụ Lục, 100-101
- Ni Giới Việt Nam-Ni Giới Tiền Giang Tiếp Bước Tiền Nhân Phát Huy Chánh Pháp, Thích Nữ Tịnh Nghiêm, NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh, 2019, 35


















































