Phật giáo có mặt trên thế gian này với bề dày lịch sử hơn 2.500 năm; từ Ấn Độ lan tỏa ra khắp nơi trên thế giới. Phật giáo cơ bản được chia thành ba thời kỳ: Nguyên thủy, Bộ phái và Đại thừa. Tuy nhiên, bản thân giáo lý Phật giáo không hề có sự phân chia tông phái. Trong thập đại đệ tử Phật, A-Nan-Đà là người duy nhất thừa kế chánh pháp của Như Lai. Vì sao nói như thế? Bởi giáo pháp Phật từ nơi A-Nan-Đà lưu xuất ra khi Như Lai nhập diệt. A-Nan-Đà là vị thị giả duy nhất “xứng ý, vừa lòng Thế Tôn”. Với trí nhớ tuyệt vời và tính tình hòa nhã, A-Nan-Đà được Thế Tôn chọn làm thị giả hầu cận Ngài khi tuổi già, sức yếu. Đây có thể xem là bắt nguồn cho sự bất đồng quan điểm giữa A-Nan-Đà và Ca-diếp, vì Ca-diếp cũng muốn làm thị giả cho Phật.
Ca-diếp là người đã có những quan điểm, kiến giải bất đồng với Ngài A-Nan-Đà khi A-Nan-Đà làm thị giả cho Thế Tôn. Trong khi, Thế Tôn chọn A-Nan-Đà, vì chỉ một mình A-Nan-Đà mới đủ phẩm hạnh của một người thị giả và Ngài còn có một sứ mệnh thiêng liêng duy trì mạng mạch Phật pháp, đó là trùng tuyên lại những giáo pháp được nói ra từ chính kim khẩu của Đức Phật. Điều này chính Ca-diếp cũng không có khả năng và sứ mệnh đó như A-Nan-Đà. Ngài A-Nan-Đà được xem là Pháp bảo của Tăng già, thế tại sao Ca-diếp – một vị A-la-hán nổi tiếng trì giới luật – lại không ủng hộ A-Nan-Đà? Tại sao Ca-diếp không nghĩ đến những công hạnh khi A-Nan-Đà làm thị giả chăm lo cho Đức Phật hơn 25 năm ròng? Những điều trên sẽ được thể hiện rõ qua bài kinh số 33, kinh Thị giả trong Trung A Hàm.
Nhân duyên bài kinh này thành tựu vào thời điểm Đức Phật lúc tuổi đời trên 60, khi sức khỏe bắt đầu suy giảm, Ngài mới thực sự cần đến thị giả riêng. Trước đó thì vị này hoặc vị kia, tùy duyên thay nhau làm thị giả cho Phật và đôi lúc có những vị làm không đúng theo ý Ngài. Trong hai mươi hai năm đầu, Đức Phật thành đạo có vài vị thị giả như: Nāgasamàla, Nāgita, Upavàna, Sunakkhatta, Cunda, Sāgala, Meghiya, nhưng Thế Tôn không được vừa ý1. Vào một dịp nọ, Đức Phật trú tại tinh xá Kỳ Viên nói với các đệ tử, Ta nay đã già (năm mươi sáu tuổi) cần có một thị giả hầu cận Ta2. Yêu cầu của bậc Đạo Sư phù hợp rất cần thiết. Bấy giờ, tất cả các đại đệ tử của Đức Phật đều chung nhau đến thỉnh ý Đức Thế Tôn để xin chọn ra người thị giả hầu cận Ngài.
Trong cuộc họp thị giả này không có mặt của Ngài A-Nan-Đà. Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng: “Hiện nay tuổi của Ta đã già; thân thể ngày càng suy yếu, tuổi thọ đã quá già rồi, nên Ta cần có thị giả. Các thầy hãy cử cho Ta một thị giả, làm sao để chăm sóc Ta, xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời Ta nói mà không quên mất ý nghĩa… ”
Nhiều vị trong cuộc họp đã lên tiếng và tự đề cử cho công việc nhưng Thế Tôn đều từ chối, lúc ấy Moggallāna vận thần thông nhập định nên biết được ý của Thế Tôn muốn chọn A-Nan-Đà làm thị giả. Thế nên, Moggallāna đến thỉnh A-Nan-Đà xin nhận nhiệm vụ thị giả hầu Phật3. Hiền giả A-Nan-Đà, thầy có biết không, Đức Thế Tôn muốn chọn thầy làm thị giả; bây giờ thầy nên làm thị giả Đức Thế Tôn.”
Tôn giả A-Nan-Đà thưa rằng:
“Bạch Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, tôi không thể lãnh trách nhiệm hầu hạ Đức Thế Tôn nỗi. Vì sao thế? Vì với các Đức Phật Thế Tôn khó xứng ý, khó hầu hạ; nghĩa là khó làm thị giả. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cũng như đối với một con voi rất hùng mạnh, đã hơn sáu mươi tuổi, kiêu ngạo, sức mạnh cường thạnh, đủ ngà, đủ vóc, khó làm xứng ý, khó gần gũi; nghĩa là khó coi sóc. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, với Đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, cũng lại như vậy, khó xứng ý, khó gần gũi; nghĩa là khó làm thị giả. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, vì vậy tôi không thể lãnh trách nhiệm làm thị giả được.”
Như chúng ta đã biết, A-Nan-Đà được kinh điển ghi nhận với những công hạnh nổi bật. Không những đệ tử đa văn đệ nhất, A-Nan-Đà còn hầu cận Đức Phật trải qua suốt hai mươi lăm năm. A-Nan-Đà là nhân tố quan trọng trong Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất. Với đức tính khiêm cung sẵn sàng giúp đỡ mọi người, Ngài cũng góp phần chủ đạo trong việc xin cho người nữ xuất gia thành lập Ni đoàn. Với công hạnh của một bậc Thánh như vậy, không thể nào có thể thốt lên những lời nói bất kính và thái độ ngạo mạn với bậc Đạo Sư như thế. Phải chăng do những bản kinh được phiên dịch theo nghĩa âm Hán khác với văn hóa Việt Nam nên ý nghĩa câu văn khi dịch ra tiếng Việt lại có phần nhầm lẫn trong phong cách đạo đức của Ngài A-Nan-Đà?
Ngay từ đầu cuộc họp, Ngài A-Nan-Đà đã lui về không tham dự. Tại sao Ngài lại không chịu tham dự buổi họp bầu thị giả? Có phải Ngài thật sự không thích làm thị giả Đức Phật hay chăng? Hay còn có ẩn tình gì không nói ra được? Không bỏ cuộc, Ngài Moggallāna cố gắng thuyết phục A-Nan-Đà làm thị giả, sau cùng A-Nan-Đà cũng bằng lòng nhưng Ngài đưa ra các điều kiện như sau: “Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn chấp thuận ba điều nguyện của tôi thì tôi mới có thể làm thị giả. Những gì là ba? Tôi nguyện không đắp y của Thế Tôn, dù cũ hay mới; nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Phật; nguyện không gặp Thế Tôn phi thời. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn cho phép tôi nguyện ba điều ấy, tôi mới làm thị giả Đức Thế Tôn4.” Sau khi được Thế Tôn chấp nhận ba điều thỉnh nguyện A-Nan-Đà trở thành thị giả của Ngài.
A-Nan-Đà được ghi lại trong Tiểu Bộ Kinh: “Ngài sanh trong gia đình Thích-ca Amitedana.Vì các bà con nói Ngài sanh ra đem hoan hỷ cho gia đình, nên được đặt tên là A-Nan-Đà (Khánh Hỷ5).”
Tuy nhiên, có thuyết cho rằng A-Nan-Đà dịch Khánh Hỷ do sanh nhằm ngày Phật thành đạo. Kinh điển cho chúng ta biết Thế Tôn thành đạo dưới cội Bồ đề ở trong rừng một mình, ai là người đứng ra báo tin Đức Thế Tôn thành đạo? Điều đó không hợp với chân lý. Trong Đại Phật Sử có nói đến bảy nhân vật sinh cùng với Đức Phật, trong đó có A-Nan-Đà6. Thế Tôn thành đạo lúc ba mươi lăm tuổi dưới cội Bồ đề, hai năm sau Thế Tôn trở về thăm kinh thành Kapilavatthu lúc này Thế Tôn ba mươi bảy tuổi, nên chúng ta biết A-Nan-Đà xuất gia năm ba mươi bảy tuổi.
Tác phẩm “Đức Phật Thích Ca Trong Phật giáo Nguyên Thủy”, tác giả Vu Lăng Ba cho rằng: “A-Nan-Đà nhỏ hơn Thích Tôn ba mươi tuổi… năm hai mươi tuổi xuất gia7.” Luận cứ này của ông đã cố tình tạo ra những kiến giải nhầm lẫn, mâu thuẫn và nghịch lý trong lịch sử Tăng đoàn. Một số học giả hiện đại đã lập luận rằng nếu A-Nan-Đà thực sự trẻ hơn Đức Phật hơn ba mươi tuổi, ông vẫn sẽ là một đứa trẻ khi Pajapati tiếp cận Đức Phật để xuất gia. Điều này cho thấy câu chuyện đã được thêm vào, hoặc ít nhất là được viết lại, một thời gian dài sau đó, bởi một người không tán thành Ni giới. Tuy nhiên, Ananda được cho là người ủng hộ quyền của phụ nữ được truyền giới trở thành thành viên của Tăng đoàn.
“Thị giả”, nghĩa là người hầu. Ở trong đạo, thị giả là vị thầy trẻ phát tâm chăm sóc cho Thầy mình. Thế Tôn độ cho A-Nan-Đà xuất gia, còn Tôn giả Belaṭṭhasīsā8 giáo thọ hướng dẫn cho A-Nan-Đà tu tập. Trên lộ trình tìm cầu chân lý giải thoát, A-Nan-Đà tinh tấn thực hành các thiện pháp, sau khi nghe bài thuyết pháp về ngũ uẩn của Puna Mantāni, A-Nan-Đà chứng được Sơ quả9. Tại sao Ngài chỉ chứng Sơ quả mà không thể chứng A-la-hán khi còn cận kề bên Phật? Trước tiên, chúng ta cần ghi nhận một điều rằng một vị A-la-hán không thể nào làm thị giả cho một A-la-hán. Đức Phật cũng là một vị A-la-hán. Nếu đúng như thế thì giữa Phật và các vị đệ tử A-la-hán có gì giống và khác nhau? Tuy Thế Tôn cũng là một A-la-hán nhưng điểm dị biệt của Ngài với các vị A-la-hán đệ tử ở chỗ Ngài là người đã thành tựu Chánh Đẳng Giác chứ chẳng phải là quả vị10. Kế đến, là qui luật tất yếu của vũ trụ. Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào trên thế gian này, nếu muốn tồn tại, hiện hữu nó phải luôn cần đến vô số điều kiện trợ duyên. Như Ngài A-Nan-Đà không chỉ kiếp hiện tại này Ngài làm thị giả cho Đức Phật một cách ngẫu nhiên nhưng thật ra từ nhiều kiếp xa xưa Ngài đã từng phát nguyện và từng làm thị giả cho Đức Phật.
Chúng ta thấy khi Thế Tôn khởi ý cần thị giả, các đệ tử Người đều xin được nhận vinh dự này, riêng A-Nan-Đà phải đến khi Mục-kiền-liên đến thỉnh mới đồng ý cùng với ba điều kiện kèm theo. Không phải A-Nan-Đà chẳng yêu kính Phật, càng không phải Tôn giả chẳng muốn giúp đỡ Ngài chỉ vì A-Nan-Đà lo ngại khi được gần Phật sẽ sinh tâm ỷ lại, rơi vào lợi danh, ngã mạn. Mặt khác, những điều kiện Ngài yêu cầu đã chứng minh trong Tăng đoàn lúc bấy giờ đã xảy ra những vấn đề xung đột, phe phái. Ai cũng muốn tranh giành vị trí được ở bên Đức Phật. Không phải chỉ do Đức Phật là một bậc Toàn tri, Toàn giác nên bất cứ chúng sanh nào khi đến gần Đức Phật đều cảm nhận được nguồn năng lượng bình an và an toàn tuyệt đối tỏa ra từ nơi Ngài.
Điều đáng lưu ý ở đây chính là vị trí quan trọng của một người thị giả Phật. Thông thường ở các chùa hiện nay, một vị thị giả của Thầy Trụ trì là một người có vừa được Thầy thương, được hưởng nhiều quyền lợi ưu tiên hơn những huynh đệ khác, vừa được mọi người xung quanh kính nể và có phần “sợ” nữa. Họ sợ người thị giả do ở gần Thầy nên sẽ xàm tấu những việc có hại cho mình v.v…
Riêng Ngài A-Nan-Đà thì khác hẳn, Ngài được chọn làm thị giả Đức Phật, vì chỉ có mình Ngài là người hội đủ các điều kiện và phẩm hạnh của Đức Phật nêu ra khi chọn thị giả. Mặt khác, Đức Phật chọn Ngài vì Ngài chính là một người rất quan trọng đối với tiền đồ sau này của Phật giáo. Nếu không có A-Nan-Đà pháp Phật đã không được trùng tuyên lại một cách đầy đủ và chân thật nhất những lời dạy từ kim khẩu của Đức Thế Tôn. Không phải là bất cứ vị A-la-hán nào trước đó, ngay cả Ngài Ca-diếp. Ngài Ca-diếp và các vị thánh đệ tử Đức Phật chỉ là một trong những nhân duyên để pháp Phật qua Ngài A-Nan-Đà mà thành tựu. Trong “Kinh Tiểu Bộ” ghi lại lời thỉnh nguyện của Ngài A-Nan-Đà với Đức Phật như sau:
1. Thế Tôn sẽ không ban cho con chiếc y mà chính Ngài đã nhận.
2. Thế Tôn sẽ không cho con đồ ăn khất thực của Ngài.
3. Thế Tôn sẽ không cho con ở cùng trong hương phòng.
4. Thế Tôn sẽ không cho con cùng Ngài đi đến nơi Ngài được mời11. Với bốn điều không trên, A-Nan-Đà nhằm mục đích để tránh sự gièm pha trong Tăng chúng, vì nghĩ rằng Phật thiên vị A-Nan-Đà, vì lợi dưỡng nên làm thị giả. Ngài A-Nan-Đà lại xin Đức Phật thêm bốn đặc ân nữa:
1. Xin Thế Tôn đồng ý đi đến những nơi mà con được mời.
2. Xin Thế Tôn tiếp kiến những vị khách phương xa ngay khi họ đến.
3. Xin Thế Tôn giải thích cho con bất cứ những điểm giáo pháp nào đối với con, cần được làm sáng tỏ.
4. Xin Thế Tôn nói lại cho con tất cả những bài pháp.
A-Nan-Đà đặt điều kiện lại với Đức Phật không phải do Ngài bất kính hay ngã mạn, vấn đề ở đây có thể cho chúng ta thấy rằng: Ngài là một Tỳ-kheo phạm hạnh, trung lập, không theo phe phái nào. Điều này được xác định như sau:
“Chư Tỳ-kheo thưa: A-Nan-Đà còn ở địa vị hữu học… Xin Đại đức Ca-diếp cho A-Nan-Đà tham gia kết tập, đây là ý muốn của thánh chúng12“. Suốt hai mươi lăm năm, A-Nan-Đà hầu cận túc trực bên Thế Tôn13. Hàng ngày, A-Nan-Đà đem tăm xỉa răng, rửa chân, đi theo Thế Tôn, quét phòng cho Thế Tôn. Ban đêm, A-Nan-Đà cầm đuốc và gậy đi quanh hương thất của Đức Phật ba lần để kiểm tra cũng như khi Phật cần gọi14. Ngài đã tự thuật lại vai trò thị giả hầu cận Thế Tôn qua những vần kệ: (1042-1044)
“Trải hai mươi lăm năm,
Ta hầu hạ Thế Tôn,
Với thân nghiệp từ hòa,
Như bóng không rời hình.
Trải hai mươi lăm năm,
Ta hầu hạ Thế Tôn,
Với khẩu nghiệp từ hòa,
Như bóng không rời hình.
Trải hai mươi lăm năm,
Ta hầu hạ Thế Tôn,
Với ý nghiệp từ hòa,
Như bóng không rời hình15.”
Như vậy, chúng ta thấy rằng các vị thị giả hầu cận Thế Tôn trước đó không ai có thể sánh bằng A-Nan-Đà. Thế Tôn xác nhận A-Nan-Đà vị thị giả đệ nhất16. A-Nan-Đà hết lòng phụng sự Đức Phật như bóng không rời hình. Ngay cả những lúc Đức Phật thiền hành hay giảng pháp, A-Nan-Đà dần dần chuyển hóa được thân, khẩu, ý trở nên từ hòa, khả ái. Trong sinh hoạt hàng ngày, A-Nan-Đà được sự chỉ dạy tận tình từ bậc Đạo Sư nên tứ oai nghi trang nghiêm, đĩnh đạc. Mỗi khi A-Nan-Đà tiếp xúc với mọi người ai cũng quý mến, được Thế Tôn tán thán A-Nan-Đà có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu. Ngài A-Nan-Đà có bốn Như ý đức của một vị Chuyển luân thánh vương, là thế nào? Chúng Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo-ni, chúng nam cư sĩ, chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến A-Nan-Đà, nếu A-Nan-Đà thuyết pháp họ lại càng hoan hỷ17. Bên cạnh đó, A-Nan-Đà vừa tế nhị lại thông tuệ, Ngài biết đúng thời hướng dẫn cho mọi người đều có cơ hội được gặp Phật: “Nay đúng thời để các Tỷ-kheo yết kiến Thế Tôn, nay đúng thời để các Tỷ-kheo-ni, nay đúng thời để các nam cư sĩ, nay đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để các vua chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn18!” Mọi người đến gặp Phật, nghe pháp, họ đều hưởng được pháp lạc không hề gặp bất cứ trở ngại nào.
Đôi khi, A-Nan-Đà hiểu ý Thế Tôn chỉ qua ánh mắt, có lần các vương tử Bodhi thỉnh Phật thọ trai tại lâu đài Kokanuda, vì tôn kính Thế Tôn nên trải tấm vải thỉnh Phật bước lên tấm vải đi vào lâu đài, Thế Tôn im lặng không bước lên tấm vải, vương tử Bodhi thỉnh Phật tới ba lần. Khi ấy, Thế Tôn không nói chỉ nhìn sang Đại đức A-Nan-Đà. Ngay lúc đó, A-Nan-Đà hiểu được ý từ Thế Tôn nói với vương tử Bodhi hãy gấp các tấm vải lại Thế Tôn sẽ đi vào lâu đài thọ trai19. Hơn thế, A-Nan-Đà sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ Như Lai, trước âm mưu của Devadatta cho voi uống rượu say hại Phật giành quyền lãnh đạo Tăng đoàn nhưng Thế Tôn đã dùng tâm từ thuần phục voi dữ20. Đức hạnh A-Nan-Đà được đại chúng khen một việc làm hy hữu, đáng được tán dương. A-Nan-Đà còn nổi tiếng với trí nhớ siêu phàm, nhờ thế tất cả lời dạy của Đức Phật đều nhớ rõ một cách phi thường. Trong một lần, A-Nan-Đà trả lời câu hỏi của người chăn bò Moggallāna học từ Thế Tôn tất cả bao nhiêu bài Pháp, A-Nan-Đà từ tốn trả lời:
“Ta nhận từ Đức Phật,
Tám mươi hai ngàn pháp,
Còn nhận từ Tỷ-kheo,
Thêm hai ngàn pháp nữa,
Tổng cộng tám tư ngàn,
Là pháp ta chuyển vận21.”
A-Nan-Đà được Thế Tôn gọi với tên “Thủ kho chánh pháp22” (Dhammabhandāgārika). A-Nan-Đà đã huân tập chủng tử Phật pháp sâu dày từ vô lượng kiếp và Ngài cũng chính là thanh gươm báu chánh pháp của Như Lai. Trong những vị thánh đệ tử, A-Nan-Đà đáng được tôn xưng đa văn đệ nhất. Vào dịp nọ, Thế Tôn trú tại Jetavana tán thán A-Nan-Đà vị Tỳ-kheo tối thắng về năm phương diện: Ða văn, tâm tư cảnh giác, sức mạnh đi bộ, lòng kiên trì và sự hầu hạ chu đáo23. A-Nan-Đà không những làm tròn nhiệm vụ thị giả, còn có công trong việc trợ duyên cho nữ giới xuất gia, thành lập Ni đoàn. Đặc biệt, Ngài A-Nan-Đà là người có hạnh nguyện làm thị giả cho Đức Phật từ vô thỉ kiếp và là nhân tố quan trọng góp phần trong việc giúp cho Tăng đoàn của Đức Phật hội đủ 4 chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di như lời tuyên bố của Đức Phật trước Mara (ma vương) khi Ngài vừa thành đạo. Cụ thể, Ngài đứng ra xin cho đại diện Nữ giới là Tỳ-kheo-ni Mahāpajāpatī Gotamī được xuất gia, thành lập Ni đoàn. Thế Tôn xác chứng rằng: “Trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả24?” Đức Phật chấp nhận cho nữ giới xuất gia với điều kiện: “Mahāpajāpati Gotamī chấp nhận tám kính pháp, thời Gotamī có thể thọ Cụ túc giới25.” Ngài A-Nan-Đà là Thánh Sơ quả, nhưng Ngài còn nặng tình thế gian, như khi Tỳ-kheo-ni Gotami viên tịch, Ngài khóc. Khi Da-du đến từ giã Đức Phật để tịch, Ngài cũng khóc, khi Ngài Rāhula viên tịch, Ngài khóc, và khi Ngài Xá-lợi-phất tịch Ngài cũng khóc. A-Nan-Đà nghe tin từ Thế Tôn sắp nhập diệt liền sầu khổ, tránh xa Thế Tôn lặng lẽ đứng tựa cột cửa mà khóc, trong Đại Bát Niết-bàn có chép: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa26!” Qua đó, cho thấy tình cảm A-Nan-Đà dành cho Thế Tôn thật sâu sắc, không thể diễn tả bằng lời. A-Nan-Đà ý thức được mình là bậc hữu học, cần phải nỗ lực tu tập. Thế Tôn hay tin A-Nan-Đà sầu khổ nên gọi tôn giả tới gần an ủi rằng: “A-Nan-Đà chớ có buồn rầu, chớ có khóc than. Này A-Nan-Đà, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt27.”
Trước khi nhập Niết-bàn, Thế Tôn sách tấn cho A-Nan-Đà, ngươi là người tác thành công đức, không bao lâu sẽ chứng quả vô lậu28. Trong Đại Phật Sử ghi lại rằng: A-Nan-Đà thọ một trăm hai mươi tuổi, khi biết bản thân mình còn sống thêm bảy ngày nữa, Trưởng lão nói cho chúng đệ tử nghe. Thông tin lan nhanh đến hai bộ tộc Sakyan và Koliyan, hai bộ tộc với lòng tôn kính nên thỉnh nguyện Trưởng lão A-Nan-Đà viên tịch trên lãnh thổ của họ. A-Nan-Đà suy nghĩ không thể để vì ta mà gây ra hiềm khích xảy ra chiến tranh giữa hai vùng nên vào ngày thứ bảy A-Nan-Đà bay lên giữa sông Rohiṇī dùng thần thông đốt nhục thân. Xá lợi A-Nan-Đà rớt đều hai bên bờ sông Rohiṇī, dân chúng hai bên bờ sông đều khóc than thảm thiết29. Câu kệ này được A-Nan-Đà nói lên khi nằm trên giường, trong giờ phút cuối cùng:
“Ta hầu hạ Bổn Sư,
Lời Phật dạy làm xong,
Gánh nặng đã đặt xuống,
Gốc sanh hữu nhổ sạch.”
Tóm lại, sự phân kỳ của Phật giáo với các hệ tư tưởng tuy khác nhau nhưng nội dung giáo lý Phật giáo không có gì sai khác nhau. Có khác chăng là về khía cạnh quan điểm và nhận thức của con người ở mỗi giai đoạn lịch sử. Đây là quy luật tất yếu. Cũng vậy, sự thịnh suy của một Tôn giáo, một dân tộc trong mỗi thời kỳ đều mang một ý nghĩa đặc biệt khác nhau. Con người sống trong mỗi thời đại đều giữ một vai trò nào đó trong sự tồn vong của một dân tộc. Phật giáo cũng không ngoại lệ.
A-Nan-Đà với vai trò là một người thị giả như bao người thị giả khác trên cuộc đời này với nhiệm vụ chăm lo cho Thầy mình. Thế nhưng, trong lịch sử Giáo hội chưa từng có vị thị giả nào hầu cận Thầy mình trải qua hai mươi lăm năm với thân, khẩu, ý từ hòa như bóng không rời hình giống như A-Nan-Đà cả. Hơn thế, pháp Phật do bởi nơi A-Nan-Đà trùng tuyên lại mà được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Người xuất gia mong cầu quả vị và sự giải thoát cho bản thân là điều tất nhiên, nhưng Ngài A-Nan-Đà thì khác hẳn. Phải chăng Ngài không vội chứng A-la-hán vì muốn tận tâm, tận lực chăm lo cho Thế Tôn. Thời gian còn lại Ngài định tâm ghi nhớ hết những pháp học và pháp hành Đức Thế Tôn đã dạy và tuyên thuyết. Thời gian nào A-Nan-Đà lo cho bản thân? Ở A-Nan-Đà sáng lên tình cảm cao quý của một người đệ tử luôn kính yêu, tận tụy đối với Thầy mình. Sự hy sinh hạnh phúc cá nhân vì một chân lý cao cả. A-Nan-Đà còn đóng vai trò trợ duyên xin cho người nữ xuất gia thành lập Ni đoàn và trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất nếu như không có mặt của Ngài thì cuộc kết tập sẽ không thành tựu.
Bức tranh lịch sử đã khép lại để mở ra cho con người một thời đại mới, hoàn thiện hơn, tốt đẹp hơn. Học tập và nghiên cứu pháp Phật là một điều kiện cần và đủ để duy trì mạng mạch Phật pháp. Noi gương Tôn giả A-Nan-Đà chúng ta ngoài sự tôn kính, làm tròn bổn phận đối với Thầy Tổ mình, chúng ta phải có sự dấn thân làm người “giữ lửa”, ngọn lửa chánh pháp đã được truyền trao từ các bậc tiền bối đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đạo Phật trường tồn ở thế gian.
Giác Thanh (ĐSHĐ-103)
Sc Tn Viên Châu diễn đọc
- Sđd, tr. 471.
- Kinh Tiểu Bộ, tập V, tr. 112.
- Sđd, tr. 112.
- Kinh Trung A-hàm, phẩm Vị tằng hữu pháp, kinh Thị giả, số 33.
- Tiểu Bộ Kinh, tập II, tr. 471.
- Đại Phật Sử, tập 2, tr. 34.
- Đức Phật Thích Ca Trong Phật giáo Nguyên Thủy, tr. 279.
- Tiểu Bộ Kinh, tập II, tr. 203.
- Sđd, tr. 471.
- Thích Hạnh Bình, Nghiên cứu khái niệm A-la-hán trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Hồng Đức, tr. 366-367.
- Sđd, tr. 112.
- Thích Hạnh Bình, Nghiên cứu về 5 việc của Đại Thiên, NXB. Phương Đông, 2014, tr. 72.
- Tiểu Bộ Kinh, tập V, tr. 113
- Tiểu Bộ Kinh, tập II, tr. 472.
- Tiểu Bộ Kinh, tập V, tr. 113.
- Trường Bộ Kinh – Kinh Đại Bổn, tr. 229.
- Kinh Trường Bộ, Đại Bát Niết-bàn, tr. 332.
- Kinh Trường Bộ, Đại Bát Niết-bàn, tr. 331.
- Tiểu Phẩm, tập II, tr. 50.
- Kinh Tiểu Bộ, tập VI, tr. 16.
- KinhTiểu Bộ, tập II, tr. 473.
- Kinh Tiểu Bộ, tập III, tr. 503.
- Kinh Tiểu Bộ, tập II, tr. 472.
- Kinh Tiểu Bộ, tập II, tr. 472.
- Kinh Tiểu Bộ, tập II, tr. 472.
- Sđd, tr. 330.
- Sđd, tr. 331.
- Sđd, tr. 331.
- Xem Đại Phật Sử, tập 6.A, tr. 308-310.


















































