Giữa không gian thanh tịnh của vùng cao nguyên Lâm Đồng, khi hoàng hôn buông xuống nhường chỗ cho màn đêm tĩnh lặng, lễ “Thắp Nến Tri Ân” với hàng ngàn ngọn nến đã được thắp lên, tạo nên một biển sáng lung linh màu nhiệm tại Đại lễ tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo được tổ chức tại Quảng trường Lâm Viên, thành phố Đà Lạt – Lâm Đồng. Hoa đăng cúng dường không chỉ là một nghi thức tôn giáo trang nghiêm, mà còn là khoảnh khắc lắng đọng để chư hành giả cùng hướng tâm về cội nguồn, dâng trọn lòng thành kính lên bậc Sơ tổ Ni đoàn. Trong làn khói trầm quyện tỏa và tiếng chuông ngân vang giữa đại ngàn, mỗi ngọn nến được chư Tôn đức Ni PBNGTW truyền trao cho đại chúng như biểu trưng cho sự tiếp nối ngọn đèn Chánh pháp, thắp sáng tinh thần cầu đạo kiên cường của người nữ Việt Nam qua nhiều thế hệ. Ánh sáng ấy không chỉ sưởi ấm không gian đại lễ, mà còn soi rọi vào tâm khảm mỗi người về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, về sứ mệnh giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp mà Đức Thánh Tổ và chư Ni Phật giáo hữu công Việt Nam đã dày công tạo dựng. Mỗi ngọn nến là một tiếng tơ đàn muôn điệu, cùng hòa tấu bản hùng ca với nhiều cung bậc cảm xúc tri ân vô vàng
Kính lạy Đức Thánh Tổ Ni vô cùng cao khiết! Nơi thành Ca-tỳ-la-vệ, Ngài là hiện thân của tột cùng vinh hiển, là bậc mẫu nghi thiên hạ với lòng từ ái bao dung. Thế nhưng, giữa lầu son gác tía, trái tim Ngài đã sớm thao thức về một lối thoát cho kiếp nhân sinh khổ lụy, đặc biệt cho thân phận những người nữ còn bị trói buộc trong định kiến khắt khe. Chúng con làm sao quên được hình ảnh một vị mẫu Hoàng cao quý, rũ bỏ lụa là nhung gấm, tự tay xuống tóc, khoác lên mình tấm áo thô sơ, cùng năm trăm nữ nhân dòng họ Thích dấn thân vào cuộc hành trình cầu đạo huyền thoại từng có trong lịch sử cổ kim.
Hình ảnh người phụ nữ cao quý với bàn chân trần vượt dặm trường xa xôi, thân thể hao gầy nhưng chí nguyện ngút ngàn, mãi mãi là ngọn hải đăng soi rọi cho ngàn đời hậu học. Chính đôi bàn chân trần ấy đã can trường vượt qua những dặm đường sỏi đá, băng qua những cánh rừng rậm rạp và những dòng sông cuộn chảy, để rồi khi đến trước đấng Từ Phụ, thân hình Ngài đã hao gầy, bụi đường bám trắng đôi vai, đôi bàn chân sưng tấy rướm máu nhưng ánh mắt vẫn rực sáng một niềm tin bất diệt vào khả năng giác ngộ của nữ giới. Ba phen khẩn cầu, cuối cùng lòng kiên định của Ngài đã làm lay động tôn giả A Nan, cầu thỉnh Thế Tôn chấp thuận, mở cánh cửa giải thoát cho Ni đoàn và từ đó Ni Tăng chính thức hiện diện trong giáo đoàn của Phật Đà.
Kính lạy Tổ sư Ni vô vàng kính quý! Sự hy sinh và dấn thân của Đức Thánh Tổ không chỉ là một chương sử đẹp trong đạo Phật, mà còn là một cuộc cách mạng vĩ đại cho quyền mưu cầu hạnh phúc đích thực, quyền tu tập giải thoát của nữ giới trên toàn thế giới. Ngài đã tôn quý Bát Kỉnh Pháp như chuỗi báu ngọc châu trang nghiêm tự thân và là một nhịp cầu khiêm cung, vững chãi bảo bọc cho Ni lưu được nương đức Đại Tăng tu học và hoằng dương Phật pháp, đồng thời dùng chính giới hạnh thanh tịnh của mình để chứng minh rằng: Dưới ánh sáng tuệ giác, người nữ cũng có thể đến bến vinh quang bốn Thánh quả. Ngài chính là đóa sen vàng rực rỡ đầu tiên, là cội nguồn của dòng sông cao khiết mà hàng triệu nữ hành giả hôm nay đang nương tựa, là ngọn hải đăng vĩnh cửu soi rọi cho ngàn đời hậu học chúng con thoát khỏi lầm mê.
Kính lạy đức Tổ sư Ni đức từ chói sáng! Khói hương trầm xông ngát mấy từng cao, chúng con thấy mình thật bé nhỏ trước ân đức bao la của Ngài. Mỗi một chiếc y vàng đang phấp phới, mỗi một nụ cười an nhiên của người nữ xuất gia hôm nay đều mang trong đó một phần hơi ấm từ lời nguyện xưa của Đức Thánh Tổ Ni. Ân đức ấy như suối nguồn đạo mạch chảy mãi, vượt qua biên giới của không gian và thời gian tưới tẩm vào mảnh đất tâm của Ni giới Việt Nam từ thuở sơ khai. Chúng con không khỏi xúc động khi nhớ về những bậc sư Ni tiền bối trên quê hương đất Việt. Từ Ni sư Diệu Nhân đời Lý với trí tuệ uyên bác, cho đến các bậc Ni trưởng trong hai cuộc kháng chiến đã biến cửa thiền thành nơi che chở hồn thiêng dân tộc. Những người con gái của đức Phật trên đất nước Việt Nam thân yêu không chỉ giữ gìn giới luật tinh nghiêm, mà còn mang trái tim người mẹ, người chị để vỗ về những mảnh đời bất hạnh, trẻ mồ côi sau những cuộc chiến tàn khốc và đem giáo lý yêu thương vào từng ngõ ngách cuộc đời. Từ những am tranh đơn sơ thủa trước đến các Học viện, đạo tràng trang nghiêm ngày nay, dấu chân của các bậc Ni lưu vẫn lặng lẽ nhưng trang nghiêm, ung dung mà đầy nghị lực, thanh thoát mà ý chí kiên cường đem đạo vào đời dẫn lối thế nhân.
Nhìn lại dòng thời gian, không khỏi bồi hồi khi tưởng nhớ đến quý sư Ni tiền bối hữu công trên mảnh đất Lâm Đồng xưa. Những bóng dáng thanh thoát của các bậc Trưởng lão Ni đã từng một thời dấn thân vào chốn đại ngàn, khai sơn phá thạch, dựng nên những mái am tranh sớm hôm kinh kệ, dâng lời cầu nguyện rải khắp muôn nơi. Các Ngài đã đi qua những năm tháng thăng trầm của lịch sử, lúc đất nước gian nguy thì các Ngài là điểm tựa tâm linh, bảo bọc nhân dân; lúc hòa bình thì lại lặng lẽ như hàng thông vững vàng trong sương giá bằng những hạnh đức tuyệt vời.
Giờ đây, trong sự chuyển mình mạnh mẽ của thời đại, địa giới hành chính có sự thay đổi, chúng con – những người con gái của đức Thế Tôn càng cảm nhận sâu sắc hơn trọng trách trên vai mình. Sự sáp nhập ấy không chỉ là sự thay đổi trên bản đồ, mà là một cuộc hội ngộ của sức mạnh và niềm tin, đòi hỏi Ni giới phải mang một tâm thế mới, năng động hơn nhưng cũng tĩnh lặng hơn. Chúng con hiểu rằng, sứ mệnh của Ni lưu trong thời đại mới chính là giữ lấy ngọn lửa niềm tin, là nhịp cầu nối kết tình thương và sự thấu cảm.
Đất nước hôm nay đang chuyển mình, nhưng niềm tin người con Phật vẫn trước sau như một. Quỳ dưới chân Đức Thánh Tổ Ni và chư vị tiền bối, chúng con nguyện mãi mãi thắp sáng ngọn đèn “tự giác, giác tha”, đem sự tu tập của mình làm đẹp cho đời, an lạc cho nhân thế. Dẫu mai này có thêm nhiều đổi thay, Ni đoàn đất Việt vẫn sẽ như những đóa sen vươn lên tỏa ngát hương đoàn kết, hòa hợp, cùng nhau gìn giữ nếp xưa, trang nghiêm đạo hạnh trong dòng chảy hiện đại, mang giáo lý Phật đà xoa dịu nỗi đau qua những hành động thiết thực. Đó là những lớp học tình thương nâng bước trẻ em nghèo, những mái ấm dang tay đón nhận những mảnh đời bất hạnh. Mỗi chén cơm ấm lòng, từng trang sách nghĩa tình, những lời kinh cầu nguyện cho quốc thái dân an ấy chính là những đóa hoa tươi thắm nhất mà Ni giới chúng con dâng lên cúng dường Thánh Tổ và chư vị tiền bối.
Kính bạch Đức Thánh Tổ Ni muôn vàn cao quý, cúi xin Tổ chứng minh lòng thành của chúng con. Những nén hương lòng hôm nay dâng lên bằng tất cả sự rung cảm của những trái tim khao khát lý tưởng giải thoát. Xin kính dâng lên Người lòng biết ơn sâu sắc nhất, nguyện cầu ngọn đèn tâm mà Người thắp lên sẽ mãi mãi được truyền thừa, dấu chân Ni đoàn Việt Nam luôn tỏa sáng hương từ làm đẹp cho đời và tiếp nối sứ mệnh cứu khổ ban vui mà Tổ sư Ni đã dày công khai sáng, để ánh sáng nhiệm màu Đại Ái Đạo mãi trường tồn trên quê hương Đất Việt thân yêu.
Giữa cái se lạnh của cao nguyên Lâm Đồng, đêm tri ân dẫu cũng đến hồi viên mãn, nhưng đã bắt nhịp cầu tiếp nối vô tận. Những ngọn nến hiện hữu đêm nay là ngọn lửa của lòng biết ơn và ý chí tu học được thắp lên từ đức hạnh của Thánh Tổ Ni sẽ mãi là kim chỉ nam, soi sáng bước chân các hành giả trên lộ trình phụng sự nhân sinh, sống xứng đáng với dòng máu tâm linh cao quý. Ánh sáng ấy sẽ theo chân mỗi hành giả trở về với đời thường, biến thành những đóa hoa trí tuệ và từ bi, tiếp tục tỏa ngát hương thơm cho cuộc đời, đúng như tâm nguyện bao đời của các bậc sư Ni.
Nam Mô Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo Kiều Đàm Di Tác Đại Chứng Minh.
Bảo Tích Bàu Lâm {ĐSHĐ-151}


















































