1. Đặt vấn đề
Là một cây đại thụ của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX, Ni trưởng Hải Triều Âm đã âm thầm cống hiến cả cuộc đời mình cho Phật giáo nước nhà, Người không chỉ là một bậc chân tu với đạo hạnh sâu dày mà còn là nhà tiên phong trong công cuộc giáo dục, phiên dịch, trước tác và hoằng pháp độ sanh; tiếp tăng độ chúng không chút mỏi mệt. Cuộc đời và sự nghiệp của Ni trưởng là biểu tượng cho sự kết hợp giữa từ bi và trí tuệ, giữa thân hành, khẩu hành và ý hành, Người còn thể hiện hạnh khiêm cung của một bậc giữ gìn Bát kỉnh Pháp. Những sự nghiệp lớn lao đó đã thể hiện qua cả cuộc đời của Ni trưởng mà người viết vì “ôn cố tri tân” của những bậc vĩ nhân đi trước âu cũng lấy đó làm hành trang cho sự nghiệp hoằng pháp của mình. Đồng thời qua kỷ niệm của đức thánh Tổ ni giới, tác giả cũng muốn đóng góp thêm chút kiến thức nhỏ bé của mình để làm sáng tỏ thêm công hạnh của Ni trưởng cũng như những đóng góp to lớn của Người trong dòng chảy Phật giáo Lâm Đồng.
2. Sơ lược về vùng đất “Hoàng triều cương thổ”
Theo các thư tịch cổ của Trung Hoa, Tây Nguyên lúc này có tên gọi là vùng Lâm Ấp: “lãnh thổ Lâm Ấp khi mới lập quốc về phía bắc được giới hạn bởi dãy núi Hải Vân, phía nam giới hạn bởi dãy núi Đại Lãnh, tương ứng với phạm vi tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên ngày nay. Đến thế kỷ IX, lãnh thổ Lâm Ấp đã trải dài từ Hoành Sơn (Quảng Bình) đến mũi Ba Kê (Bình Thuận)” . Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Sử ông đã nêu tên 10 đơn vị hành chính cấp châu của Chămpa là: “Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, Ô, Rí, Thị Bị, Vijaya, Kauthara, Pandarang và châu Thượng. Trong đó, châu Thượng nằm ở tây bắc dãy Hoàng Sơn. Đó là nơi có nhiều bộ lạc Thượng sinh sống, được coi như chư hầu hoặc thuộc quốc gia của Chămpa”, những bộ lạc ở đây sinh sống theo từng nhóm người.
Vào giữa thập niên 40 của thế kỷ XVIII, với chính sách “Bình Tây tả sát” của triều Nguyễn, các nhà truyền giáo bắt đầu tiến lên cao nguyên, chính họ là người mở đường để thực dân Pháp chiếm đóng Tây Nguyên sau này: “Từ 1940- 1945, phát xít Nhật và thực dân Pháp cùng cai trị các tỉnh Tây Nguyên bao gồm Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng”1. Đến năm 1949, với sự rối ren của những thời cuộc trong chiến sự. Ngày 08/03/1949, người Pháp thoả hiệp và trả lại cao nguyên miền Bắc và miền Nam cho chính quyền Quốc trưởng Bảo Đại. Đến ngày 30/05/1949 làm lễ trao trả quyền quản lý cho Quốc trưởng Bảo Đại. Các tỉnh Kon Tum, Darlac, Plei Ku, Haunai và Lang Bian hợp nhất lại thành một địa phận hành chính vào ngày 25/07/1950, gọi là “Cao nguyên miền nam thuộc Hoàng triều cương thổ”.
3. Quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Lâm Đồng
Người Kinh đến Tây Nguyên trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mặc dù đã có những số người Kinh lên Tây Nguyên khá sớm, hoặc là tù binh, hoặc là theo các đoàn truyền giáo: “Từ thế kỷ thứ XVII, chúa Nguyễn cho đưa những tù binh bị bắt trong chiến tranh Trịnh–Nguyễn lên khai phá vùng cao”2. Bên cạnh đó cũng theo nhiều đợt di dân, những người Kinh lên cao nguyên lập nghiệp, có mặt Tây Nguyên vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hầu hết những lưu dân từ các khu vực duyên hải miền Trung. Theo bước chân của các nhóm người Việt tiên phong, những gia đình nghèo khó từ các vùng duyên hải miền Trung tiếp tục dời quê hương đến Tây Nguyên, ban đầu họ lập làng lập xóm, mang theo hành trang là những tư lương sản xuất và tôn giáo của mình. Những ngôi nhà tranh đơn sơ là những nơi họ thờ Phật sớm hôm để cầu bình an nơi vùng đất hứa. Năm 1921, một vị Tăng thuộc thiền phái Liễu Quán là Hoà thượng Nhơn Thứ, người gốc Quy Nhơn tiên phong lên vùng cao dựng thảo am, về sau được vua Bảo Đại phong sắc tứ Linh Quang tự. Bên cạnh đó, cũng trong giai đoạn này, một nữ Phật tử tín tâm có pháp danh là Hồng Tiến thế danh Huỳnh Thị Lan cúng mảnh vườn của mình để cải gia vi tự, những người dân địa phương vẫn quen gọi là “chùa Bà Xám”. Ngôi cổ tự này được xây dựng vào năm 1923, lấy tên là Giác Nguyên tự. Đây là hai ngôi cổ tự có mặt sớm nhất trên mảnh đất Lâm Đồng sau này.
Ảnh hưởng phong trào chấn hưng Phật giáo và sự ra đời của An Nam Phật Học hội, các chi hội ở Lâm Đồng phát tiển mạnh mẽ, dưới sự chỉ đạo của Hoà thượng Trí Thủ và hậu thuẩn của đức Từ Cung ngôi chùa Linh Sơn được khởi công xây dựng trở thành trụ sở chính và hoàn tất vào năm 1940. Đây là ngôi chùa có quy mô và bề thế bậc nhất tại Lâm Đồng lúc bấy giờ.
Năm 1945, cả nước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, giai đoạn này đã có nhiều vị cao tăng đóng góp cho Phật giáo Lâm Đồng như: thiền sư Thiện Minh Trí, thiền sư Nhất Hạnh, Hòa thượng Mãn Giác, Bích Nguyên, Từ Mãn, Minh Đức, Ni trưởng Từ Hương,… Cùng các cư sĩ Huỳnh Văn Trọng, Lê Văn Vinh, Ngô Văn Mão… Đến năm 1963, dưới sự đàn áp của chính quyền họ Ngô, chúng đàn áp và bắt bớ vô cớ những vị chân tu, trong đó có Hoà thượng Bích Nguyên đã bị chúng giam cầm, thầy Thiện Mỹ đã phát nguyện thắp ánh đuốc trí tuệ nên cuối năm Thầy đã lên Sài Gòn tự thiêu để đòi lại công lý.
Khó khăn là thế, trong những lúc vận mệnh đất nước thịnh suy khác nhau, Phật giáo Lâm Đồng vẫn là một phần quan trọng và đồng hành cùng quốc gia dân tộc. Để rồi khi vượt qua nhữngthăng trầm của thời cuộc, đất nước giải phóng, chín hệ phái chung quy về một mối, ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời. Trải qua hơn 10 thập kỷ, với 40 năm xây dựng lại những gì chư Tổ đã khai sơn, Phật giáo Lâm Đồng đã đi vào nề nếp sinh hoạt truyền thống, đoàn kết tương trợ lẫn nhau không phân biệt giòng thiền hay hệ phái. Tuy nhiên, để có một Phật giáo Lâm Đồng phát triển như ngày hôm nay, công hạnh của Chư Tôn đức Ni không hề nhỏ, họ đã âm thầm lặng lẽ xây dựng đời sống phạm hạnh, duy trì tinh thần nhập thế, làm lợi lạc cho đời và ấp ủ vun trồng ánh sáng Phật pháp trên vùng cao nguyên.
- Dòng chảy Ni giới Việt Nam đến Ni giới Lâm Đồng
Thời đức Phật còn tại thế, Ngài đã cho phép phụ nữ gia nhập vào Tăng đoàn và đưa họ đến một đời sống phạm hạnh rất trong sáng. Kể từ đó những hình ảnh phụ nữ xuất chúng với biết bao kiệt xuất anh hào có mặt trong mọi thời cuộc. Phật giáo Việt Nam luôn tiếp nối truyền thống hình ảnh Bồ tát đi vào đời với những thân hình nhỏ nhắn, chân yếu tay mềm nhưng ý chí bất khuất như Bát Nàn phu nhân thời bà Trưng bà Triệu; thời Phật giáo hưng thịnh có Thiền sư Diệu Nhân thiền sư; đầy lòng hiếu thuận với vua cha, ý chí kiên cường với tổ quốc Hương Tràng thiền sư (tức Huyền Trân công chúa) hy sinh thanh xuân của mình làm dâu xứ người để đổi lấy hai châu Ô – Rí. Truyền thống tiếp nối truyền thống hình ảnh những người phụ nữ với chí nguyện xuất trần như công chúa Ngọc Trúc được thiền sư Chuyết Chuyết ban pháp danh Diệu Viên quy y ở chùa Bút Tháp; là hình mẫu tiêu biểu của người phụ nữ thời phong kiến, vừa tài trí lại có lòng từ bi, đức hạnh. Bà thể hiện sự hòa quyện giữa địa vị chính trị cao quý và tâm thế tu học thanh cao. Cuộc đời của bà vừa là minh chứng cho ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo trong tầng lớp hoàng tộc, vừa là biểu trưng cho sự giao hòa giữa chính trị – văn hóa – tâm linh.
Từ khi chúa Tiên mở mang bờ cõi, dòng dõi nhà Nguyễn mến mộ đạo Phật, hình ảnh người phụ nữ càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống hộ quốc an dân, những cây đại thọ của Ni giới đã phôi thai và hình thành. Đầu thế kỷ XX, ảnh hưởng phong trào chấn hưng Phật giáo và sự ra đời của An Nam Phật Học hội, dưới sự lãnh đạo của Chư Tôn đức và sự hậu thuẩn nhiệt huyết của Từ Cung thái hậu, những hoàng gia triều Nguyễn cũng như các công chúa từ bỏ cành vàng lá ngọc theo bước chân giải thoát của Như Lai, trong đó: “Ni trưởng Diên Trường được xem là Tỳ-kheo Ni đầu tiên của miền Thuận Hoá”3. Trong phong trào Phật giáo đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo tại miền Nam Việt Nam (1963–1966), các cảm tử Ni như: Diệu Quang, Diệu Trí, Thông Tuệ đã dũng cảm tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bên cạnh đó, những vị Ni trưởng tài đức, ý chí thượng sĩ xây dựng Ni giới Việt Nam như: Ni trưởng Diệu Không, Diệu Hương, Thể Quán, Trí Hải, Huỳnh Liên, Diệu Nghĩa, Như Thanh…,hình ảnh Ni giới không chỉ là biểu tượng của sự thanh tịnh và từ bi, mà còn là hiện thân của trí tuệ, đạo hạnh và lòng yêu nước.
Mặc khác, trong bối cảnh nước nhà bị chia cắt, giặc ngoại xâm chia chẻ đất nước để cai trị, Phật giáo không ngừng nỗ lực phát triển trên vùng Tây Nguyên. Giai đoạn này xuất hiện những tấm thân nhỏ bé nhưng chí nguyện tựa núi Thái Sơn, những người phụ nữ mang ánh tuệ giác soi sáng chốn núi rừng hẻo lánh như: Ni trưởng Từ Hương (Đà Lạt) sư bà Tâm Ấn (Gia Lai), Ni trưởng Huỳnh Liên (An Khê), đức Từ Cung (Buôn Mê Thuột)…. Trong đó không thể không nói đến người xiển dương chánh pháp tại Lâm Đồng là Ni trưởng Hải Triều Âm, một vị Ni khả kính với đức khiêm cung cũng như tâm từ và trí tuệ châu viên, thắp ngọn đuốc tuệ giác tại núi rừng cao nguyên.
5. Những đóng góp to lớn của Ni trưởng Hải Triều Âm trong sự phát triển Phật giáo Lâm Đồng
5.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Ni trưởng sinh ra ở đất thủ đô, cha là một công chức người Pháp có tên Etienne Catallan, mẹ là bà Nguyễn Thị Đắc người Việt, tên tiếng Pháp của Ni trưởng là Eugénie Catallan, tên tiếng Việt là Nguyễn Thị Ni. Người mang trong mình hai dòng máu Việt – Âu nhưng dòng máu của giải thoát đã ấp ủ trong người từ lúc mới sinh ra. Lớn lên trong gia đình giáo dục, người con gái ấy đã trở thành một cô giáo, ngoài thời gian lên lớp cô luôn quan tâm đến những mảnh đời bất hạnh, cô bắt đầu tham gia công tác xã hội; thăm các viện dưỡng lão, trẻ em mồ côi. Trong một lần tình cờ ghé thăm chùa Quán Sứ, khi nghe sư Tuệ Nhuận giảng kinh Lăng Nghiêm với chương Đại Thế Chí niệm Phật, Người đã thấu ngộ được lý nhiệm màu:
“Thấy nghe như huyễn hóa Ba cõi tựa không hoa
Xoay nghe huyễn hóa trừ Trần tiêu giác viên tịnh”4
Trong thời gian đó, tại miền Bắc các đơn vị Gia đình Phật tử bắt đầu thành lập: “Dưới sự hướng dẫn của các Thiền sư Tố Liên và Trí Hải, các tổ chức Gia đình Phật tử được thiết lập mau chóng ở Hà Nội và các tỉnh lân cận. Sư cô Hải Triều Âm đã là những cây thạch trụ đầu tiên cho phong trào giáo dục thanh thiếu Phật tử ở miền Bắc”5.Cùng với tri thức sẵn có, Ni trưởng đã tham gia viết bài cho toà soạn Bồ đề với bút danh Cát Tường Lan (Catallan): “Cát Tường Lan là một cây bút nữ sĩ trẻ trung rất được Phật tử trẻ tuổi mến chuộng, văn của cô trong sáng, nhẹ nhàng và tươi vui”6. Với tấm lòng đầy từ bi và nhiệt huyết với đạo Phật, năm 1949, với chí nguyện xuất trần, Ni trưởng được tổ Đồng Đắc7 thế phát xuất gia, tuy nhiên pháp danh Hải Triều Âm lúc quy y với Thiền gia Pháp chủ Mật Ứng vẫn được Tổ giữ lại. Như vậy, người vẫn luôn nhắn nhủ đệ tử mình phải ghi nhớ những người Thầy đã khai ngộ: thứ nhất là cụ Đồng Đắc thế phát xuất gia, sư Tuệ Nhuận trao pháp niệm Phật và vị Ni khả kính Đàm Uyển là người luôn ân cần sát bên chỉ dạy:“Sợi chỉ cây kim khó đáp cho nên chỗ thấy chỗ hiểu phải đúc thành chí khí, bởi vì áo bát tín thí khôn đền, nên Giới- định-tuệ phải nhuận thân hiện tại”8.
Vào năm 1952, chiến tranh loạn lạc Ni trưởng cùng mẹ vào Nam, tham vấn học hỏi nhiều vị cao Tăng thạc đức thời bấy giờ như: Ni trưởng Thiền Quang, Hải Ấn, Như Hoa,… Hòa thượng Thiện Hoà, Thiện Hoa, Trí Hữu… Năm 1962, thân mẫu Ni trưởng qua đời, để làm tròn hiếu sự, Người nhập thất chuyên trì tu tập để hồi hướng cho mẹ. Sau một thời gian, Ni trưởng nương đức Hoà thượng Trí Tịnh, Người siêng năng hành trì tụng kinh, bái sám. Đến năm 1968, với chí nguyện độ sanh trên vùng cao, Ni trưởng đã thành lập Đạo tràng Tịnh Độ tại làng Đại Ninh: “Tiếng A Di vang vọng cả rừng thiền, hương xa bay khắp khiến Phật tử bốn phương về chiêm lễ hàng hàng, người cầu đạo ba miền về quy y lớp lớp, tạo nên một khung cảnh Đạo tràng Tịnh Độ hùng tráng nơi trú xứ Hương Nghiêm này”. Năm 1973, Ni trưởng phát nguyện nhập thất, ngày đêm nghiên cứu giảng giải và biên soạn thánh điển, trì pháp môn niệm Phật, lúc đã đạt được giác ngộ tự thân, Người luôn khuyên chúng đệ tử:“Mong Ni chúng tự giác, đừng chần chờ thờ ơ thả trôi ngày tháng mà nhớ thâu nhiếp sáu căn nhất tâm niệm Phật. Quay về nương tựa Phật A Di Đà cũng chính là trở về chân tâm bản tánh thanh tịnh đó”9. Từ đó tiếng tăm Ni trưởng vang xa, các hàng hậu học được Người tiếp độ vô số, Đạo tràng càng ngày mở rộng, chư Ni nhiều nơi đã nương đức Ni trưởng làm sáng danh Phật giáo Lâm Đồng.
Cơ duyên đã mãn, năm Quý Tỵ (2013), biết ngày giờ trở về với Phật, mặc dù đệ tử khắp nơi trở về thăm, nhưng Người không vì luyến tiếc tình ái thế gian mà quên câu niệm Phật, khuôn mặt vẫn toát lên vẻ hiền hoà, khoé miệng tươi cười, đôi mắt sáng long lanh, giọng nói có vẻ yếu hơn nhưng tâm trí sáng ngời, miệng lúc nào cũng niệm Lục niệm Di Đà. Trước lúc nhập diệt, Người căn dặn hàng đệ tử: “Thầy thấy Đức A Di Đà tới rước, Ngài mặc áo màu trắng cùng với đức Văn Thù và Phổ Hiền Bồ tát có vô vàn Thánh chúng đến đón, Ngài nói với Thầy rằng: Đi ngay đừng đợi chờ”. Tất cả đều thương tiếc mà lắng lòng niệm Phật, âm điệu thiết tha đưa Người về cõi vô ưu, lúc đó là 11 giờ 56 phút ngày 31/07/2013 nhằm ngày 24/06 năm Quý Tỵ.
– Công tác xã hội:
Đối với Ni trưởng, khi còn là cô sinh viên, Người luôn mang tâm từ đến tất cả mọi người, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn. Thân mẫu vốn là một y tá, nên lúc nhỏ Ni trưởng thường theo mẹ chăm nom bệnh nhân ngoài những giờ rảnh rỗi, trái tim nhân từ ấy đã khơi dậy niềm thương yêu những mảnh đời bất hạnh; có chút tiền là để dành mua cái áo hay những gói kẹo cho người già, một hành động nhỏ thôi đã nói lên tấm lòng nhân hậu của Người. Lúc lớn lên với những đồng lương ít ỏi, Ni trưởng để dành tiền mua sách Phật pháp để đọc và giảng cho mọi người nghe ở viện dưỡng lão hoặc cô nhi viện trong những ngày cuối tuần, Người không ngừng nghỉ làm lợi ich cho mọi người, nên thanh xuân của mình cũng không quan tâm mà chỉ dành tình yêu cho những mảnh đời cơ nhỡ.
Cả đời lẫn đạo, dù xuất gia nhưng Ni trưởng vẫn âm thầm giao những trọng trách công tác xã hội cho các Ni đệ tử lớn. Người xây dựng rất nhiều Đạo tràng để cho mọi người đến tu tập, mỗi Đạo tràng sẽ có tuỳ theo độ tuổi để tham gia tu tập, ví như trẻ dưới 15 tuổi thì ở Đạo tràng Bát Nhã (hiện nay Ni sư Nguyên Châu đang đảm nhiệm); độ tuổi trung niên từ 16 tuổi đến 50 tuổi thì tu tập tại Dược Sư (Ni sư Vĩnh Lạc và Ni sư Bảo Giác đảm nhiệm); từ 50 tuổi trở lên thì tu tập tại Hương Sen (Ni sư Tâm Ngộ đảm nhiệm)… Có thể thấy được rằng, Ni trưởng tuỳ theo căn cơ và độ tuổi để dìu dắt những bồ đề sơ cơ, tạo nên một Đạo tràng tu tập sống trong sữa pháp của đức Như Lai.
– Văn hoá – Giáo dục
Những buổi đầu bước chân khập khểnh lên cao nguyên, khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng không làm sờn lòng chí nguyện độ sanh của Ni trưởng; với gần 10 ngôi phạm vũ huy hoàng trên đất Lâm Đồng, Ni chúng gần nghìn người lớn nhỏ, Người lúc nào cũng ân cần dạy bảo: “Dù học dù hiểu nếu không có thực tập sẽ đi qua….”10. Với hàng tại gia, Ni trưởng chỉ trao Tam quy, phát thiện nguyện lành, bố thí phóng sanh: “Quy y Tam bảo, hiểu lý đạo, tin nhân quả luân hồi, tin tất cả hữu tình đều có Phật tánh, là đã đặt chân lên con đường Bồ đề”11, phải biết luân thường đạo lý và mẫu mực của người Việt Nam. Trong một lần các Đạo tràng nước ngoài muốn nghe pháp nhũ của Ni trưởng, Người đã viết thư:“Việt Nam cũng như Canada, chẳng qua chỉ là quán trọ, ta tạm dừng chân trên con đường sanh tử không cùng tận. Cố gắng niệm Phật, cùng nhau về cõi Phật mới là quê hương…”12. Bên cạnh đó, với việc học, Ni trưởng luôn dạy là việc hành “học đi đôi với hành”, hơn hết là hàng xuất gia, việc thực hành càng quan trọng, trước lúc đệ tử đi thọ giới, Người luôn căn dặn: “Thọ giới đắp y cũng như những bài vở chúng ta đã học, là mâm cổ rất to, toàn cao lương mỹ vị, Phật tổ đã làm sẵn để thiết đãi các con. Nhưng nếu chúng ta không thành thật, không tu tập, không thật sự áp dụng vào nếp sống hàng ngày mà cứ để cho tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến xâm chiếm tâm địa, thì cũng như người gặp cổ ngon không ăn vì phải ngậm kẹo độc…”13. Cả cuộc đời của Ni trưởng luôn chăm lo từng chi tiết nhỏ trong giáo dục thiền môn, luôn lắng nghe tâm tư của đàn hậu học, hướng đến lối giáo dục mà đức Phật đã xây dựng gần ba nghìn năm lịch sử.
– Tiếp Ni độ chúng
Với đức hạnh sâu dày, hạnh nguyện vị tha, chư Ni nương tựa oai đức Ni trưởng rất nhiều. Mặc dầu Người ít có thời gian gần gũi Ni đoàn nhưng luôn viết thư sách tấn, lời lẽ ân ái, hoà dịu. Mỗi lời trong thư luôn mang đầy tình yêu thương: “Hãy thay cha mẹ lo tiền trị bệnh cho các em…, chúng ta đã xuất gia, đã từ bỏ gia đình thì phải ở chùa, bệnh chùa lo, chết chùa chôn cất…”14. Thuở sanh tiền, Người luôn lấy tinh thần Lục hoà để giáo dưỡng và sách tấn Ni chúng, nên đến lúc trưởng thành, đệ tử của Người đều thành công về mọi mặt; tu tập cũng như việc “báo Phật ân đức”. Trong các đệ tử của Người có cả nghìn vị tu tập trên mọi miền của tổ quốc, họ đã đem ánh sáng từ bi của đạo Phật và hạnh nguyện của thầy mình cũng như lý tưởng hoằng pháp; có thể kể đến như: Ni trưởng Viên Lương – viện chủ chùa Liên Hoa (Hồ Chí Minh) đã viên tịch, hiện nay Ni sư Thành An kế nhiệm; Ni trưởng Bảo Liên – chùa Thiện Mỹ (Đà Lạt); Ni sư Phổ Tế – chùa Linh Quang; Ni sư Huệ Nghiêm – chùa Trúc Lâm (Hồ Chí Minh); Ni sư Bảo Tâm (Vĩnh Phúc); Ni sư Chơn Nguyên (Bến Tre); Ni sư Trí Quang (Phú Thọ); Ni sư Vĩnh Lạc, Bảo Giác – chùa Dược Sư; Ni sư Nguyên Châu – chùa Bát Nhã; Ni sư Tâm Ngộ – chùa Hương Sen; Ni sư Phổ Minh – Ni viện Hải Triều; Ni sư Hoa Nghiêm – chùa Lăng Nghiêm; Ni sư Hương Nghiêm – chùa Viên Thông… Bên cạnh đó, còn có một số vị Ni xuất chúng hoằng dương Phật pháp ở nước ngoài như: Ni Sư Bảo Quang – Ni viện Liên Hoa (Canada); Ni Sư Hiếu Đức – chùa Linh Quang (Philadelphia); Ni trưởng Hải Triều Hạnh (Úc Châu) đã viên tịch; Ni Sư Giới Hương (California)…
Đối với hàng đệ tử Người luôn căn dặn việc thọ dụng của đàn na tín thí, xem món ăn chỉ là dược thực để nuôi thân, đừng có tham đắm bám víu vào cái thân giả tạm: “Ví như phân nhơ, nhiều ít đều hôi, sống lâu hay chết yểu đều khổ, cây đã độc thì gốc rễ bông trái đều giết người… Thân nhơ bẩn này chỉ do đất nước gió lửa hòa hợp mà thành?”15. Người luôn nhắc Ni chúng về sự hành trì, không nên xao lãng chuyện niệm Phật:“Thầy mong cả chúng mỗi người phải có một chuỗi tràng để nhớ mình siêu vượt uế trượt, tiến lên thánh địa, chứ không phải chờ già móm răng mới cầm chuỗi tràng”16.Cả cuộc đời của Người luôn chăm lo cho đời sống Ni chúng, Ni trưởng không thiên vị người đệ tử nào, những ngày cuối đời vẫn khuyên đệ tử hành trì niệm Phật, xem cõi thế là vô thường, công đức cao vời độ chúng sâu tận đã được người đời sau ca tụng:“Chúng con từng nghe thuở xưa Ngài đã sớm giác ngộ, phát chí xuất trần, đồng chơn nhập đạo, nghiêm trì quy luật thiền môn, sưu tầm giáo lý Phật đà, khơi tỏ đèn thiền, nêu cao đuốc tuệ, mở lòng từ bi tiếp độ Ni lưu, không phân biệt địa phương, chủng tộc, trẻ già Ngài đều hóa độ…”17.
– Phiên dịch và trước tác
Suốt cả cuộc đời cống hiến cho đạo pháp, ngoài việc tu tập hằng ngày Ni trưởng vẫn luôn giành thời gian nghiên cứu Tam tạng thánh điển, bên cạnh đó Người đã phiên dịch, giảng giải, trước tác rất nhiều tác phẩm có giá trị làm phong phú cho nền học thuật nước nhà. Theo khảo sát của người viết, Ni trưởng có hơn 150 đầu sách và còn nhiều tác phẩm viết tay chưa được xuất bản.
Những bộ kinh được phiên dịch và toát yếu như: kinh Tứ thập nhị chương; Phổ môn – Sám sáu căn – Hồng danh; kinh Dược Sư; kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân; kinh Vu lan; kinh Di giáo; Khuyến phát bồ đề tâm văn; kinh Tứ niệm; kinh Bắt rắn; kinh Mahàparinibbàna; kinh Brama; kinh A na luật đà; kinh Bát đại nhân giác; kinh Chân hạnh phúc; kinh Giải thoát phiền giận; kinh Soi gương; kinh Ba cửa giải thoát; kinh Thiện sanh; kinh Từ tâm; kinh Từ bi; kinh Đại phước đức; kinh Vô Thường… Ngoài phiên dịch, Ni trưởng còn toát yếu các bộ kinh như: trọn bộ kinh A hàm; Pháp Hoa thông nghĩa; Từ bi Đạo tràng sám pháp; kinh Lăng già; kinh Thủ lăng nghiêm phần Samatha; kinh Thủ lăng nghiêm phần Tamma; kinh Thủ lăng nghiêm phần Thiền na; kinh Niết bàn toát yếu; kinh Lăng nghiêm chính mạch; kinh Thủ lăng nghiêm toát yếu; kinh A Di Đà yếu; kinh Phật bản hạnh tập; kinh Kim quang minh; kinh Tứ Niệm xứ giảng nghĩa; kinh Nhật tụng; kinh Nhân duyên giảng nghĩa; Đạo tràng Bát nhã và Kim Cang giảng luận; kinh Viên Giác; kinh Duy ma cật: phẩm Văn Thù thăm bệnh; kinh Cahyna; Bát nhã Ba la mật đa; kinh Bi hoa; Bài Sám nguyện Tịnh độ; Tịnh Độ thù ân; Tán lễ Tây Phương; Lễ Đại hồng chung; Mông Sơn thí thực; Bài thỉnh Thập nhị cô hồn; Khoa cúng phóng sanh; Khoa cúng Tổ…
Các bộ Luật biên soạn và toát yếu như: Tam quy Ngũ giới; Sa-di Ni luật nghi toát yếu; Tục khắc trùng trị Tỳ ni sự nghĩa tập yếu; Hai cánh nhà Ni trọn bộ; kinh Phạm võng Bồ tát giới; Luật học cương yếu; Luật tu xuất gia; Bồ Tát giới giảng nghĩa…
Các bộ Luận biên soạn và toát yếu như: Quy nguyên trực chỉ; niệm Phật thập yếu; Sự tích Phật A Di Đà; Lá thư Tịnh độ; Hạnh thanh tịnh; Tây Phương du ký căn bản đạo lộ toát yếu; Căn bản Phật pháp; Phật học đức; Tịnh độ quyết nghi; Khai thị; niệm Phật tam muội; niệm Phật viên thông; Nghiệp và phương pháp tẩy nghiệp; Sống chết bình an; Hương vị giải thoát; Vô ngã là Niết bàn; Hương trầm; Tôn giả Xá Lợi Phất; Chăn trâu; Dấu chân hương tượng; Khuyên phóng; Răn sát sanh… Ngoài ra những tác phẩm được trước tác như: Làm chùa; Những lá thư thầy; Di chúc; Tinh hoa Tịnh độ; Bốn mùa hoa giác; Pháp bảo; Vài suy ngẫm… Bên cạnh đó còn những bài viết được chép bằng tay chưa được xuất bản như: Thiền học Nguyên thủy; Bản đồ kinh Hoa Nghiêm; kinh Pháp Cú; kinh A Di Đà sớ sao; Âm sinh học; Nấc thang cuộc đời; Hiếu sanh lập đức… Mặc khác có những bài thơ như: Đầu xuân; Đường vào chùa; 12 tháng; Mẹ; Từ đâu ta đến; Giặc; Một đời giáo hóa; Tâm ích kỷ; Tiếng nói của gà; Thiền hành và hành thiền.…,cùng với đó là những bài giảng lúc sinh tiền hiện nay được lan toả khắp các trang mạng xã hội với những nội dung sâu sắc với những triết lý cao siêu.
– Tâm Hiếu và tâm Bi
Nếu như nói ngài Xá Lợi Phất đệ nhất hiếu hạnh, hay ngài Mục Kiền Liên cũng là bậc đại hiếu thì tâm hiếu của Ni trưởng cũng không kém gì các bậc thánh Tăng. Thưở thân mẫu còn sinh thời, dù cuộc sống gia đình rất khá giả, nhưng vì để phụng dưỡng và hướng mẹ đến với của Phật, Người đã dẫn mẹ vào Nam để học đạo, đồng thời cũng để có thời gian chăm sóc mẹ trong buổi xế chiều. Dẫu biết là vô thường nhưng: “…Trong đời có nhiều ngày buồn, nhưng buồn thảm nhất là ngày con mất mẹ. Hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ là châu ngọc mẹ để lại cho con”18. Năm 1962, bầu trời như sụp đổ, Ni trưởng lo tang lễ mẹ xong phát nguyện nhập thất một năm để hồi hướng công đức cho mẹ. Bên cạnh đó, Người luôn khuyên các hàng đệ tử về tâm hiếu cũng như nét đẹp của dân tộc: “Hiếu hạnh không những được lý giải ở phạm vi đạo đức mà còn là nền tảng quan trọng trong cố kết truyền thống gia đình, trật tự xã hội, trình độ văn hóa của một dân tộc, đây là bản chất làm người…”19.
Chữ hiếu vuông tròn là thế, nhưng tâm “Bi” đối với Người cao cả vô cùng. Người có tấm lòng Bồ tát yêu thương tất cả động vật dù bé hay lớn, Ni trưởng luôn dạy: “Thương thay! Thánh phàm, người vật vốn đồng một tánh thể. Loại vật cũng bẩm ngũ hành cũng ngậm tứ tướng, cũng đau ngứa, no đói, cũng yêu ghét sợ hãi, nơm nớp sợ chết, lo lắng tham sống, tránh khổ cầu an như ta”20. Đối với những sinh linh đã khuất, Người cũng thương xót vô bờ:
“Đêm dằng dày tối tăm trời đất Hồn linh thiêng phảng phất u minh Thương thay mười loại chúng sanh Cô hồ mờ mịt lênh đênh vật vờ…”21.
5.2 Tư tưởng của Ni trưởng
Cả cuộc đời của Ni trưởng kiến tạo rất nhiều Đạo tràng, độ chúng không đếm xuể, nhưng chưa bao giờ người quên sứ mệnh giải thoát là mục đích tối hậu. Người luôn căn dặn đệ tử không nên bám víu vào chức vụ hay trú xứ: “Trụ là trụ vào nhà của Phật, trì là giữ gìn gia nghiệp của Như Lai, đức Phật có một gia nghiệp duy nhất là giáo hóa khai tỉnh chúng sanh, trụ ở nhà của Phật, mặc áo giáp của Phật và ngồi tòa của Phật”22. Nhà Như Lai tức là tánh không mà kinh Pháp Hoa đã dạy mà chính bản thân người đã liễu tri các pháp, vì vốn dĩ các pháp không có tự tánh, do duyên giả hợp mà thành thì lấy cái gì để làm của ta, vì thế vạn pháp vốn không, đừng nên bám víu mà nên tu tập để vun bồi phước đức hằng ngày: “Ký ca ký cóp. Đóng góp nên công Nhẹ như lông hồng, bay về cực lạc hào quang sáng quắc”….23.
Vạn pháp vốn không, chỉ có giải thoát là mục đích tối hậu, chúng sanh cũng vì theo đuổi những cái hư danh nên mới trôi lăn sanh tử. Ni trưởng luôn quan sát sự sanh khởi của tâm thức, lấy tuệ giác để soi sáng vô minh, thực hành Tứ niệm xứ để không chấp niệm:“Người có Tứ niệm xứ không vướng bận bất cứ vào một cái gì nên thảnh thơi an vui, không vất vả đuổi theo sự vật, cũng không trốn chạy. Vì hằng dùng tư tưởng để đối diện với già bệnh chết, quen thuộc với già bệnh chết nên không sợ hãi. Quán chiếu vạn vật không phải để khước từ vạn vật mà để tiếp xúc với vạn vật bằng Tuệ giác”24. Khi quán chiếu thì mọi căn đều thanh tịnh: “Nghĩa là sáu căn tiêu phục, tên khác của chữ Không”25. Tuệ giác đó là “không” chính là con đường cuối cùng của một hành giả học Phật, quán chiếu vạn pháp vốn giai không, để đạt đến Niết bàn giải thoát.
6. Quan niệm về nhân sinh quan và thế giới quan
6.1 Tu tập và giải thoát
Con đường tu tập của Ni trưởng luôn dùng thân hành, khẩu hành và ý hành để sám hối các căn, Người luôn trân quý thời gian từng phút từng khắc, không để trôi lăn những giây phút nào:
“Chớp mắt mặt trời đã rạng đông Quay đầu vầng nhật tại không trung Chỉ ham giấc điệp say sưa mãi
Nào biết hoè cao bóng chuyển vòng Phút chốc hoa tươi đã rủ úa
Quẩn quanh mệnh nấm thịnh liền vong Ai ơi! Sao chẳng hồi tâm lại
Tự khổ đường mê mãi ruổi rong.”26
Vì trân quý thời giờ, nên trong mỗi niệm Người luôn trì danh hiệu Phật để trấn nhiếp các căn: “Niệm Phật, trì kinh A Di Đà dùng một môn trì hồng danh gồm nhiếp cả 3 căn, kiêm thông cả thiền, giáo, luật và mật,….”27, quán chiếu sáu căn tiếp xúc với sáu trần để không khởi vọng niệm sai lạc, không để những ảo ảnh phù du che mờ tâm trí:“Ta cứ tưởng ta thấy cái bình bông ở bên ngoài. Ai có dè ta đang thấy ở trong mắt ta. Ta cứ tưởng thấy được bình bông thật. Ai có dè ta chỉ thấy bóng ảnh ở trong mắt ta. Ta cứ tưởng bóng hình này phản ảnh trung thành cái bình bông. Ai có dè nó chỉ tuỳ duyên tuần nghiệp mà giả hiện”28.
Quán chiếu các pháp là thế, nhưng Người luôn dạy và thực hành giới luật, vì người biết chỉ có giữ giới mới đưa đến bến bờ giải thoát: “Giới luật xuất thế giải thoát luân hồi sanh tử, đạo thánh hiền khó huân ướp, nghiệp chướng vô minh nặng nề. Không giới luật kiềm thúc, ba nghiệp buông lung tạo tội, thân tuy ở chùa mà sự đọa lạc rõ ràng, vì vậy môn học rất thiết yếu này, xuất gia chúng ta không thể lơ là”29.
6.2 Kế thừa và phát triển
Thiết nghĩ, khi nhắc đến cuộc đời Ni trưởng không ai là không nói đến hạnh khiêm cung của người, dù gặp một vị Tăng trẻ Ni trưởng vẫn cung kính và hành lễ,Người luôn lấy vòng hoa “Kỉnh pháp” để trang sức cho bản thân, vòng hoa ấy không sắc không hương nhưng toả ngát khắp phố núi đạn ngàn. Bên cạnh đó, Ni trưởng luôn nhắc nhở đại chúng không nên để uổng kiếp người và phát nguyện đi đến con đường giải thoát, phát túc siêu phương:“Xuất gia là có chí hướng siêu thoát ba cõi ra ngoài vòng tử sanh, cạo đầu nhuộm áo thân hình khác tục. Trí tuệ bát nhã chiếu thân bốn đại vốn không, cảnh sáu trần huyễn hoá nên tâm càng khác thế gian”30. Mặc khác, mỗi người phải tự giác soi sáng con đường tuệ giác của chính mình, đừng để thời gian luống qua vô ích:“Mong Ni chúng tự giác, đừng chần chờ thờ ơ thả trôi ngày tháng mà nhớ thâu nhiếp sáu căn nhất tâm niệm Phật, quay về nương tựa Phật A Di Đà cũng chính là trở về chân tâm bản tánh thanh tịnh đó”31.
7. Kết luận
Có thể thấy được rằng, cả cuộc đời của Ni trưởng luôn dành trọn cho đời và đạo, Người hiện thân Bồ tát với lý tưởng cứu khổ ban vui, Ni trưởng đầy đủ phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, mang trên mình dòng máu quý tộc, khoát trên vai tấm y giải thoát, ngồi nhà “Không” thong dong tự tại. Người sống ở trần mà không bị bụi trần làm ô uế, mang thân nữ nhi nhưng chí nguyện cao cả của bậc trượng phu; hiện thân để độ đời; đến đi thong thong tự tại với tuổi đời 94 và hạ lạp 60. Cuộc đời của Ni trưởng khó có thể dùng ngôn ngữ để diễn tả hết công hạnh và chí nguyện sâu dày của Người.
Ths. NCS Thích Thiên Phú32
UV BTSGHPGVN tỉnh Gia Lai UV Ban hoằng Pháp tỉnh Gia Lai
- Nguyễn Thị Kim Vân (chủ biên) (2019), Lịch sử Gia Lai từ nguồn gốc đến năm 1975, Nxb. Khoa học xã hội – Hà Nội, tr. 449.
- Nguyễn Thị Kim Vân (chủ biên) (2019), Lịch sử Gia Lai từ nguồn gốc đến năm 1975, Nxb. Khoa học xã hội – Hà Nội, tr. 332.
- Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Văn hóa Sài Gòn, tr. 433.
- Tỳ Kheo Ni Hải Triều Âm (2018) soạn dịch, Kinh Nhật Tụng, phần Quán Âm Quảng Trần, Nxb. Tôn giáo Tr. 113.
- Nguyễn Lang (2012)Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Phương Đông, Tr.808.
- Nguyễn Lang (2012)Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Phương Đông, Tr.808
- Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hoà thượng Thích Đức Nhuận
- Tỳ-kheo Ni Hải Triều Âm (2016), Pháp Bảo, Tôn giáo, Tr. 26.
- Tỳ Kheo Ni Hải Triều Âm (2023) Tinh Hoa Tịnh Độ, Nxb Tôn giáo, 127.
- Trích Pháp ngữ Sư bà Hải Triều Âm file ghi âm.
- Trích những bút tích Sư bà Hải Triều Âm, có bản đánh máy.
- Chùa Dược Sư (2000), Những Lá Thư Thầy, ấn tống. Tr,371 –
- Chùa Dược Sư(2000), Những Lá Thư Thầy, ấn tống. 371-373.
- Sđd, Những Lá Thư Thầy, 54.
- Tỳ Kheo Ni Hải Triều Âm (2008), Sadini Luật nghi toát yếu, Nxb Tôn giáo. Tr.121.
- Sđd, Tinh Hoa Tịnh Độ, 74.
- Điếu văn Phân Ban Đặc trách Ni giới tỉnh Lâm Đồng, có bản đánh máy.
- Trích những bài viết Sư bà để lại, có bản đánh máy.
- Trích những bút tích Sư bà Hải Triều Âm, có bản đánh máy.
- Tỳ Kheo Ni Hải Triều Âm (2019),Răn Sát Sanh sưu tầm và dịch, Tôn giáo, Tr.15-17.
- Tỳ Kheo Ni Hải Triều Âm, Chiêu Hồn Ca biên soạn và dịch có bản đánh máy.
- Trích Pháp ngữ Sư bà Hải Triều Âm.
- Sđd, Tiểu Sử Sư Trưởng Hải Triều Âm, 14.
- Tỳ kheo Ni Hải Triều Âm (2015) soạn dịch, kinh Tứ niệm xứ, Nxb Tôn giáo, Tr.42.
- Tỳ kheo ni Hải Triều Âm (2007) toát yếu, Sa môn Hám Sơn soạn thuật,Pháp Hoa Thông Nghĩa, Nxb. Tôn Giáo, Tr.98.
- Tỳ kheo Ni Hải Triều Âm, (2012), Bốn mùa hoa giác, Tôn giáo, Tr.74.
- Trích Pháp ngữ Sư bà, https://chuaduocsu.org/phap-ngu-bai-3/.
- Theo Thích Nữ Tuệ Nhật – chụp được trong phòng lưu niệm của cố Ni trưởng Hải Triều Âm trong lần khảo sát thực tế.
- Trích Pháp ngữ của Sư bà, có bản đánh máy.
- Trích trong bút tích của Sư bà.
- Tỳ Kheo Ni Hải Triều Âm (2023), Tinh Hoa Tịnh Độ, Nxb Tôn giáo, 127.
- Nghiên cứu sinh HVPGVN tại Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Thích Hải Ấn (2006), Hà Xuân Liêm, “Lịch sử Phật giáo xứ Huế”, Nxb. Văn hóa, Sài Gòn.
Thích Hải Ấn- Thích Trung Hậu biên soạn (2011), “Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa”, Tập 2, Nxb. Tổng Hợp, Tp. Hồ Chí Minh.
Tỳ kheo Ni Hải Triều Âm (2010), “Di chúc”, Nxb.
Tôn giáo, Hà Nội.
Tỳ kheo Ni Hải Triều Âm (2012), “Làm chùa”, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
Ban Tăng sự Phân Ban Ni giới Thừa Thiên Huế (2016), “Ni giới Bắc tông Thừa Thiên Huế (Từ thế kỉ XVII
– XX)”,Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
Nguyễn Hoài Bão (2001), “Địa chí Lâm Đồng”, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
Thích Nữ Như Hương (2004), “Ni lưu Giới đức Tâm đức Tuệ đức”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Chùa Dược Sư (2019), “Tiểu sử Sư trưởng Hải Triều Âm”, Ấn tống.
Chùa Dược Sư (2000), “Những lá thư Thầy”, Ấn tống.
Trần Sỹ Thứ (2008), “Địa chí Đà Lạt”, Nxb. Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh.
Thích Không Trú chủ biên (2008), “Lược sử những ngôi chùa tỉnh Lâm Đồng”, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội.

















































