Dẫn nhập
Thấm thoát gần 30 năm Ni trưởng thuận lẽ vô thường, trả lại tấm thân tứ đại cho trần gian mộng ảo, để về cõi vô tung bất diệt, cũng là bấy nhiêu năm chúng con xa Ni trưởng, nhưng những lời Ni trưởng chỉ bảo vẫn luôn in sâu vào trong tâm khảm con, làm kim chỉ nam cho chúng con trên bước đường tu hành. Giờ đây, khi đầu đã luống hai màu tóc, mắt đã mờ, chân đã chậm, môn đồ đệ tử cũng đông nhiều, con vẫn một mực giữ chí nguyện tu tập, như khi Ni trưởng còn tại thế, không dám lơ là bỏ bê. Ân đức Thầy Tổ thâm sâu, không gì báo đáp nổi, hôm nay, hướng về Đại lễ tưởng niệm Thánh tổ Ni Đại ái Đạo và chư Tôn đức Ni tiền bối hữu công con bùi ngùi xúc động nhớ đến Ni trưởng, dám xin có vài dòng lược qua về tiểu sử Ni trưởng, cũng như những lời cảm niệm, thành kính dâng lên tri ân Ni trưởng.
1. Thân thế
Ni trưởng Thích Đàm Phương (1930-1995), thế danh Phạm Thị Minh. Thân phụ là cụ Phạm Hữu Tài, khi còn đương thời cụ làm quan, thân mẫu là cụ Lê Thị Ngọ cụ làm nội chợ. Mỗi khi thân phụ Ni trưởng đóng quân ở đâu là cả gia đình sẽ đi cùng ở đó, khi ở Quảng Ninh, lúc ở Thái Nguyên, khi thì Hải Dương… Vì là con gái quan, nên từ nhỏ Ni trưởng đã được cho ăn học cẩn thận, thông thạo tiếng Pháp. Ni trưởng là chị cả trong gia đình có bảy anh, chị em, em trai Ni trưởng là Nghệ sĩ Nhân dân Quý Dương, trú tại ngõ Lương Sử C, phường Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Nhờ gia đình có truyền thống kính tín Đạo Phật, nên Ni trưởng sớm nhận ra lẽ vô thường của kiếp người, sớm phát nguyện xuất gia theo dì ruột của mình là Sư tổ Thích Đàm Nguyên, trụ trì chùa Bà Ngô (Ngọc Hồ), phố Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
2. Vững tâm xuất gia – quyết chí tu hành
Năm 1946, khi duyên Phật hội đủ, vừa tròn 16 tuổi, Ni trưởng chính thức được Sư tổ Thích Đàm Nguyên thế phát cho xuất gia, nhận làm đệ tử. Năm 18 tuổi, được thầy Bản sư cho thụ giới Sa Di Ni và Thức Xoa Ma Na. Năm 20 tuổi Ni trưởng được đăng đàn thụ giới Cụ túc, tại chốn Tổ Khê Hồi, (Hoa Lâm Thiền Tự), xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội. Trước năm 1950, chùa Bà Ngô có rất đông đệ tử, trên 20 người xuất gia tu học. Nhưng trong cuộc cải cách ruộng đất (1953-1956), chính quyền địa phương kêu gọi, vận động các sư phải hoàn tục. Vì thế trong khoảng 3 – 4 năm đó, mọi người về dần hết, duy chỉ có Sư tổ Đàm Nguyên và Ni trưởng Đàm Phương nhất định ở lại tu hành, không còn nhiều người nữa, nên Ni trưởng phải đi lại trông nom hai cảnh chùa, đó là chùa Bà Ngô và chùa Cổ Điển, để vừa hầu Sư tổ vừa lo việc cấy cày, trồng rau để mưu sinh.
Nhận thấy Ni trưởng có trí cầu học, siêng năng đèn sách, Sư tổ Nghiệp sư đã cho Ni trưởng theo học lớp Phật học ở chùa Quảng Bá – quận Tây Hồ và dốc lòng dạy dỗ. Năm 1952, đáp lại lời thỉnh cầu tha thiết của nhân dân địa phương, Sư tổ Đàm Nguyên cho phép Ni trưởng về trụ trì chùa Long Quang, thôn Cổ Điển, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội, để trông nom, hương đăng, lo việc tín ngưỡng cho nhân dân. Năm 1956 Ni trưởng bị một số người bắt Ni trưởng hồi tục, nhưng Ni trưởng không chịu, thế là họ nhốt trong làng Cổ Điển 3 tháng để gây sức ép. Họ thu hết tất cả lúa gạo, xe đạp,… của chùa để không còn gì thì phải nghe, nhưng Ni trưởng vẫn son sắt hướng về đạo Phật không từ bỏ chí nguyện xuất gia của mình.
3. Thành tựu trong đạo pháp và dân tộc
Ngày ấy, đất nước ta đang trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hoàn cảnh vô cùng khó khăn, người người phải thắt lưng buộc bụng, chùa cảnh điêu tàn, một mình Ni trưởng vừa lo việc Đạo, vừa không quên gắng sức chung tay lo việc đời, hòa cùng một khối với nhân dân.
Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông
Trong giai đoạn khó khăn đó, Ni trưởng luôn tạo điều kiện hết mức để có thể giúp đỡ nhân dân, tôn tạo toàn bộ hai nhà tảo mạc làm lớp học cho các em học sinh, trường tiểu học xã Tứ Hiệp được học trong khu vực chùa, trước cổng Tam quan là trạm Truyền thanh gắn chuông báo động, bệnh viện huyện Thanh Trì được sơ tán vào chùa để chữa bệnh cho bà con. Tháng 10/1956 khi có Nghị quyết về chính sách sửa chữa sai lầm về cải cách ruộng đất, Ni trưởng mới được thả ra và tiếp tục về chùa tu hành lại như cũ. Năm 1987 khi Sư tổ Đàm Nguyên yếu bệnh, Ni trưởng cho đệ tử về chùa Cổ Điển lo liệu rồi ra hẳn chùa Bà Ngô để hầu Tổ.
Những năm tháng khó khăn ấy, trẻ nhỏ thiếu thốn lắm, không ít những trường hợp con trẻ lẻn vào trộm hoa quả vườn chùa. Nhưng Ni trưởng không bao giờ quở trách, chỉ nhẹ nhàng gọi lại, ân cần: “Sau này, đừng trèo lấy trộm, nhỡ ngã nguy hiểm lắm. Cháu có muốn ăn vào xin nhà chùa cho”. Những đứa trẻ ấy ngày nào giờ đã lên ông, lên bà hết cả rồi; mỗi lần ra chùa, đều chỉ vào từng cây mít, cây xoài năm ấy mà kể lại với mọi người ở chùa, với con cháu bằng giọng điệu bùi ngùi, nhớ niệm về ân sư. Ni trưởng chưa bao giờ kể các việc ấy, tất cả đều do sau này đều do chính các Phật tử kể lại.
Con vẫn nhớ Ni trưởng thường chia sẻ: “Chùa là bùa làng, ai có cảm mạo, đau ốm, muốn xin cây dược liệu gì thì đến chùa là có”.
Vậy nên, trong vườn chùa rộng rãi, Ni trưởng luôn trồng thêm các cây thuốc, mỗi loại một ít. Ni trưởng còn có những phương thuốc cổ truyền như: chữa ho, chữa kiết lỵ. Ni trưởng còn trồng nhiều cây thuốc trong vườn, để giúp đỡ bà con địa phương khi ốm đau, bệnh tật, giúp đỡ, cưu mang những người có hoàn cảnh khó khăn. Mặc dù là con quan, gia đình khá giả, lại là con gái thủ đô, được nuông chiều từ nhỏ, thế nhưng Ni trưởng rất chịu khó, làm hết mọi việc lớn nhỏ không nề hà, hơn nữa không bao giờ lớn tiếng, trong ngôi chùa làng giản dị, Ni trưởng vẫn luôn ân cần chăm lo từ những điều nhỏ nhất tới dân làng. Ngày ấy, giai đoạn khó khăn chung của đất nước, Ni trưởng tự cày cấy, trồng trọt và tăng gia sản xuất để lấy tiền trang trải cuộc sống, hương đăng cúng Phật. Thuở ấy, bom rơi giặc phá, người người chạy loạn, khó khăn chồng chất, nhưng Ni trưởng vẫn luôn ẩn nhẫn bền tâm. Suốt một đời tu hành, Ni trưởng quyết không phụ ơn Tam Bảo, sạch cỏ đỏ hương, kinh kệ chuông mõ, duy trì mạng mạch. Từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Ni trưởng được chư Tôn Đức suy cử làm Thư ký Phật giáo huyện Thanh Trì, rồi giữ chức Phó Ban đại diện Phật giáo huyện. Trong khoảng hơn 20 năm làm công tác Phật sự, Ni trưởng luôn nhiệt tình, làm tròn mọi công tác được giao, sau đó vì ra hầu Tổ ở chùa Bà Ngô nên Ni trưởng xin thôi không giữ chức vụ Phật giáo nữa. Trong làng, ai có chuyện lớn nhỏ đều ra bạch Ni trưởng và được Ni trưởng ân cần giúp đỡ. Hiện nay, có những Phật tử, đầu đã bạc phơ, vẫn ra chùa khoe tràng hạt nhựa được Ni trưởng biếu từ ngày ấy, quý lắm, lần suốt mấy chục năm rồi mà không dám bỏ, không dám đổi dù con cháu có biếu những chuỗi tràng giá trị gấp nhiều lần, có những người kể lại về các bài khấn nôm được Ni trưởng truyền miệng giúp cho mọi người học.
Thực hành theo hạnh nguyện Bồ Tát, Ni trưởng vừa giúp dân vừa an đạo, hương thơm đức hạnh vẫn lưu truyền mãi đến sau này. Đệ tử chúng con có cơ hội thân cận bên Ni trưởng, từ khi còn làm Ưu Bà Di, được Ni trưởng cho đi thị giả, hay đến chùa chấp tác nhưng vẫn còn e dè việc xin đi xuất gia. Con còn nhớ khi đến một đám tang, con cháu họ gào khóc thảm thiết, Ni trưởng đã chỉ dạy cho con:
“Đấy, được làm thân người rất khó, con người ta sống rồi lại thác, mãi trôi lăn trong sinh tử, nếu muốn thoát khỏi cảnh đấy thì hãy quyết chí tu hành”. Trên đường về, con lăn tăn lo mình không có quả tu thì không tu được, Ni trưởng ân cần chỉ dạy: “Quả hay không là do chính bản thân mình, quyết chí kiên trì ắt tu được”.
“Chùa là do dân tạo, Đạo là do sư truyền”. Suốt đời tu hành, Ni trưởng chắt chiu từng chút một, ngoài thì an dân giúp đời, trong thì khởi sự trùng hưng chùa cảnh để nhân dân có chỗ nương náu tâm linh. Năm 1953: cùng Tổ Đàm Nguyên trùng tu lại Tam quan chùa Bà Ngô. Năm 1953: sửa chùa Cổ Điển. Năm 1992: xây nhà Tổ, sửa sang 2 nhà Tảo mạc ở Cổ Điển. Năm 1993: xây vườn tháp tại nội tự Cổ Điển. Suốt đời, Ni trưởng luôn tâm niệm: chỉ có trí tuệ mới là sự nghiệp chân chính của người xuất gia, nên Ni trưởng dốc lòng cùng sư Tổ cho in khắc mộc bản bộ kinh Dược Sư song ngữ: Hán – Việt để đem in, truyền bá sâu rộng Phật giáo trong đồ chúng. Ni trưởng luôn động viên hàng hậu học chúng con và các Phật tử rằng: hãy tin sâu Tam bảo thì nhất định vượt qua gian khó, thành tựu được thiện nguyện. Ni trưởng đã được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen các cấp.
4. Thay lời kết
Với giới đức trang nghiêm, từ bi vô lượng, những tưởng Ni trưởng còn trụ thế lâu hơn nữa, để dẫn dắt chúng con trên hành trình vượt sông mê đến bờ giác ngộ, nào ngờ vô thường ập đến, Ni trưởng đã ra đi, trả lại tấm thân tứ đại rồi nhẹ gót quy Tây vào ngày 19 tháng 3 năm Ất Hợi (1995). Sự ra đi của Ni trưởng là một mất mát lớn đối với Giáo hội, với môn đồ Pháp quyến, hiếu quyến. Tứ chúng đồng tiếc thương bậc Ni trưởng khả kính, chân tu, trọn một đời cống hiến cho Đạo pháp và Dân tộc. Hạnh nguyện vô ngã, vị tha của Ni trưởng sẽ luôn là tấm gương sáng cho hậu học chúng con hôm nay và mãi mãi về sau.
Đệ tử con văn phong còn nông cạn, chẳng thể nói hết nỗi niềm biết ơn sâu nặng, chỉ có tấm lòng chân thành bày tỏ, xin dâng lên giác linh Ni trưởng.
Ni sư Thích Đàm Viên


















































