Tóm Tắt: Trong lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Lâm Viên tên gọi của Lâm Đồng ngày trước, không thể vắng bóng Ni trưởng Từ Hương. Một bậc danh Ni xuất chúng thời bấy giờ ở núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn. Xuất phát điểm của Ni trưởng là từ Đà Nẵng, vì đại nguyện Ni trưởng đã đặt chân đến miền Hoàng triều cương thổ, lập nên cứ địa cho Ni giới tại xứ sương mù, và ngày nay gọi là Ni giới Lâm Đồng. Thầm lặng và cống hiến, Ni trưởng đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho Phật giáo tỉnh nhà nói chung và Ni đoàn nói riêng. Đối với đời sống xã hội, Ni trưởng lại là một người tiên phong trong công tác thiện nguyện. Tất cả những hoạt động của Ni trưởng đã khẳng định vai trò quan trọng của người nữ nói chung và Ni giới nói riêng trong bất cứ thời đại nào. Qua đó, như một minh chứng và khẳng định cần nhìn nhận lại về quan điểm tính nam nữ khập khiễng trong xã hội cũ.
1. Đôi nét về Ni trưởng Từ Hương
Như một hành trình, đến rồi đi, khi đến đem lại niềm hỷ lạc cho nhân thiên, khi đi mang đến sự thương kính và tiếc nuối với nhiều người, sống và chết đối với một hành giả rất rõ ràng trong nhận thức của người con Phật, nhận chân được về tính vô thường biến đổi, Ni trưởng Từ Hương (1916- 2006), thế danh Hồng Thị Phù Dung đến với thế gian bằng một hành trình có ý nghĩa, sự hiện diện của sư đầu tiên ở một ngôi làng tại Giang Tây, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam vào năm 1916 (Bính Thìn), là năm Ni trưởng chào đời. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trung lưu, có truyền thống Phật giáo, lại thâm Nho, Ni trưởng được chăm sóc thương yêu nuôi nấng của song thân, được học hành, mặc dù thời đó, việc đi học không hề đơn giản. Năm 20 tuổi, cái tuổi đẹp nhất của thời con gái, mang bao hoài bão lớn đi vào đời nhưng sư lại xuất gia học đạo, nguyện làm sứ giả của Như Lai, chí xuất trần quá mạnh, cùng với thời cuộc làm ý chí sắt đá trỗi dậy. Ni trưởng đầu sư với Hòa thượng Tôn Thắng tại chùa Phổ Thiên, Đà Nẵng, được ban pháp danh Tâm Hồng. Theo dòng kệ của Lâm Tế Chánh Tông, Ni trưởng thuộc đời thứ 43, theo dòng thiền Liễu Quán Ni trưởng thuộc đời thứ 9. Những tưởng vào chùa chỉ sớm hôm thân cận Tam bảo, đèn sách và phục vụ đại chúng, nhưng không, thời cuộc không cho phép những người con Phật có quyền ngủ quên trong sự thanh tịnh vô vi của Pháp lạc, thời thế này buộc những người tu cần có sự nhìn nhận và chuyển bước để tiếp nhận những mới mẽ, nhất là nền giáo dục bằng Nho giáo đã đi đến suy tàn, giáo dục Tây học từng bước được thay thế. Thêm vào đó, Việt Nam tiếp nhận làn gió chấn hưng Phật giáo từ các nước Châu Á với những nhân vật đi đầu: Thái Hư Đại Sư (1889-1947) tại Trung Quốc, ngài Anagārika Dharmapāla (1864-1933) tại Ấn Độ… Đã tiến hành công cuộc chấn chỉnh lại giáo đoàn Phật giáo bằng các hình thức, trong đó Việt Nam lấy giáo dục là mũi nhọn để cải tổ, thay đổi tư tưởng nhận thức lạc hậu. Trong tình thế như thế, với một người tham thiền học đạo, luôn đặt lợi ích đại chúng lên hàng đầu như sư Từ Hương, một suy nghĩ đẹp đã nhen nhúm, hành động, đã dẫn đường đưa lối Ni trưởng ra xứ Thần kinh (Huế), Kinh đô của nước ta lúc bấy giờ để học đạo. Còn nhớ, những năm đầu 1930, 1931, 1932, Hội An Nam Phật học được thành lập, trong công tác của hội, mở các lớp dạy học giáo lý là mục đích chính yếu. Ni trưởng được tham gia học ở Ni viện Diệu Đức, do Sư bà Diệu Hương chủ quản. Những năm tháng rèn mài ở Ni trường, đã tiếp bồi cho Ni trưởng một khối kiến thức cơ bản về Phật học. Vào năm 1943, Ni trưởng đã tốt nghiệp Trung đẳng Phật học Chuyên khoa tại Ni viện Diệu Đức và trở về hoạt động Phật sự ở tỉnh nhà, sau đó lên tỉnh Lâm Đồng đến lúc viên tịch. Chặng đường dài gần một thế kỷ, đủ để Ni trưởng cho đi và đắp đổi tình thương, hàn gắn lại phần nào những hoàn cảnh cơ nhỡ của những mãnh đời bất hạnh ở các em nhỏ, cụ già, những người bệnh bằng cách mở nhà phát thuốc, ký nhi viện, trường học… Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình. Sống tốt đời đẹp đạo, làm tròn sứ mệnh của người con trong gia đình thế tục, cũng như một hành giả vãng lai tam giới thực hiện hạnh nguyện. Vào năm 2006, hành trình đã khép lại tại Ta bà, Ni trưởng viên tịch, cái tin ấy chuyển phát đi, chẳng khác nào giữa trời quang mà sấm chớp nổi dậy. Lòng con dân trăm họ, những người mến đạo, tu đạo đau xót nhưng kính cẩn tiễn người về Tây. Thế là:
Trời Tây buông gậy, Cõi uế treo bình.
Ta bà một thoáng sạch không, Cực lạc thêm tòa sen nở.
2. Ni trưởng Từ Hương với Phật giáo Lâm Đồng
2.1. Sự hiện diện Phật giáo tại Lâm Đồng
Trước khi Phật giáo xuất hiện, tại Lâm Đồng, người dân (không kể người đồng bào bản xứ) chủ yếu làm việc cho Pháp và theo Thiên Chúa giáo. Năm 1920, khi Hoà Thượng Nhơn Thứ (1884 – 1941) theo đoàn người di dân từ Khánh Hoà vào cũng là lúc Phật giáo hiện diện. Trong buổi đầu truyền giáo, Ngài đã gặp khó khăn bởi nguyên thủy đối với người dân Phật giáo còn quá mới mẽ. Ngay lúc đó, Hoà thượng dựng am tranh, sớm tối kinh kệ, đây cũng là cơ hội đưa đạo đến với mọi người. Hoà thượng đã dạy cho người dân biết con đường làm ăn chân chính qua chính nghiệp. Tránh sát, đạo, dâm vọng… Dần dà, tăng được niềm tin trong lòng mọi người. Xã hội biến động, chiến tranh liên miên, trong nước nhiều cuộc khởi nghĩa diễn ra chống Pháp. Trên thế giới, đang dần đi đến thế chiến thứ hai (1939- 1945) lòng người mệt mỏi, muốn tìm điểm tựa, tiếp thêm nguồn sống. Phật giáo là nơi trở về sáng suốt nhất đối với những người đang trong tình cảnh ấy, đặc biệt giới trí thức. Chính những trạng huống đó, đã âm thầm đưa Phật giáo ngày càng phát triển, số tín đồ ngày một khả quan. Tạp chí Viên Âm cho biết một số Phật tử ở Dran đã từng thốt lên rằng: “Ai ngờ, trong chốn sơn lâm cùng cốc, như xóm Càng-rang, mà giống Bồ-đề, nhờ đại-bi-tâm của thầy Bát-Nhã đem gieo bấy lâu, ngày nay đã nảy nở, đâm hoa trổ cành tươi tốt. Ở Dran, hiện nay đã có trên 30 hội viên Phật học, thảy đều phát tâm qui y Tam bảo, nguyện giốc chí tu trì và tấn thành Phật sự. Bản san chúc anh em ở Dran chóng đạt thành chính nguyện”. [1, tr.63].
Tín đồ ngày càng tăng, không thể không nhắc đến những lần di đân từ các nơi đến Lâm Đồng. Năm1927, sở trà Cầu Đất được thành lập đã thu hút sự di cư của những người dân miền Trung lên Đà Lạt làm công nhân trong những đồn điền. Theo Địa Chí Lâm Đồng cho biết, đã có ba cuộc di cư lớn của người Kinh đến vùng Cao nguyên Lâm Viên. Lần thứ nhất, người Kinh bắt đầu từ khi toàn quyền Pháp có chủ trương thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, xây dựng Đà Lạt năm 1899. Thứ 2, là năm 1954 đến 1975, thứ 3, từ 1975 đến nay [2, tr.400].
Dân cư gia tăng kéo theo bao nhiêu nhu cầu, đúng là “Cảm ứng tùy thời hiện” từ đây, Phật giáo tại Lâm Đồng đa màu sắc, xuất hiện nhiều hệ phái và các dòng thiền được truyền đến như dòng thiền Liễu Quán, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh… Thiền phái Lâm Tế-Liễu Quán gắn liền với chúng đệ tử như Hoà thượng Nhơn Thứ, Hoà thượng Từ Mãn, Hoà thượng Bích Nguyên, Hoà thượng Minh Cảnh, Hoà thượng Đạo Quang hay Ni trưởng Từ Hương, Ni trưởng Huệ Phước… Dòng Lâm Tế-Chúc Thánh điển hình có Hoà thượng Minh Đức đã góp phần không nhỏ xây dựng và phát triển Phật giáo Lâm Đồng từ những ngày còn sơ khai. Hiện nay, Giáo hội Phật giáo tỉnh đã hoạt động song song với những quy chế của Giáo hội cũng như nhà nước một cách nhịp nhàng uyển chuyển, đạt được nhiều Phật sự viên mãn [3].
- Những đóng góp của Ni trưởng đối với Phật giáo Lâm Đồng và đời sống xã hội
- Đóng góp đối với Giáo hội Phật giáo Lâm Đồng
Đối với Ni giới Lâm Đồng
Sự ra đời của Ni giới Lâm Đồng gắn liền câu chuyện giữa Ni trưởng Từ Hương và Hoà thượng Bích Nguyên. Năm 1946, Ni trưởng Từ Hương đến vùng cao nguyên xứ sương mù. Nếu ngày nay được mệnh danh xứ sở ngàn hoa, thủ phủ của cái đẹp thì ngày trước không hề mơ mộng như thế. Ni trưởng muốn có một chỗ để Ni giới sinh hoạt, tạo sự kết nối tương tác Phật sự giữa chư Ni với nhau. Nhận thấy sự quan trọng và cần thiết về sự có mặt của Ni giới, Hoà thượng Bích Nguyên đã giao lại ngôi chùa Linh Phong được thành lập năm 1944, tại Trại Hầm – Đa Lợi cho Ni trưởng. Linh Phong chính là ngôi chùa Ni đầu tiên tại thành phố Đà Lạt, và là một trong ba ngôi chùa có mặt sớm nhất sau chùa Linh Quang, Linh Sơn. Nếu Linh Sơn là nơi sinh hoạt của Giáo hội thì Linh Phong là nơi trở về của chư Ni trong mỗi sự kiện của Ni giới. Như thế, sư Từ Hương là người Ni đầu tiên khởi xướng mọi công tác của chư Ni và cũng là người sát cánh mọi hoạt động trong Giáo hội cùng chư Tăng. Về giáo dục, sư là người tiên phong trong việc tầm phương học đạo. Ni trưởng nhận biết được khả năng của bản thân cũng như người nữ nói chung, theo lời Thế Tôn đã dạy cho tôn giả A-nan về khả năng người nữ trong Tăng Chi Bộ III: “Này Ānanda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự-lưu quả, Nhất-lai quả, Bất-lai quả hay A-la-hán quả” [4].
Giáo dục cho phụ nữ có ý nghĩa và giá trị ngang bằng với giáo dục cho nam giới trong mọi phương diện. Rất nhiều người nữ hoạt động rất tốt ở thượng tầng kiến trúc như giảng dạy tri thức, suy tư về thần học, họ là những nhà bác sĩ, những giáo sư đầu ngành, những nữ tu chân chính mang lại giá trị cao đẹp cho xã hội. Nhiều vị Ni đã bắt được nhịp sống của Giáo hội, “sống cảm thức cùng Giáo hội”, đã và đang dấn thân vì một Giáo hội hiệp hành, một Tăng già hoà hợp xương minh, điển hình sư Như Thanh, sư Diệu Hương, sư Diệu Không, sư Đàm Soạn… Có lẽ Ni trưởng Từ Hương đã đọc được nỗi lòng của Sư trưởng Diệu Tịnh đã từng viết đăng trên báo Từ Bi Âm (“Lời than phiền của một cô vãi”) và lời tâm sự ấy đã chạm đến trái tim nhân từ của Ni trưởng: “Mỗi vị Cao Tăng Đại đức nên chú trọng về sự giáo hóa cho chị em chúng tôi mau thành tài đạt đức, thì có ngày cũng khua chuông cảnh tỉnh và đánh trống pháp âm, đặng giúp ích cho phái Tăng già lo việc trùng hưng Phật pháp”[5].
Ni trưởng cùng chư Tôn đức trong Giáo hội thành lập trường Trung cấp Phật học tại chùa Linh Sơn, đảm trách Phó Ban bảo trợ trường Cao Trung Phật Học Lâm Đồng từ khi thành lập cho đến ngày viên tịch. Ni trưởng đã tham gia vào công tác đào tạo Tăng tài và nhân lực cho Giáo hội. Đối với chúng cư sĩ, Ni trưởng mở các khoá tu Bát quan trai, tạo điều kiện tu học thường xuyên cho Phật tử trong các mùa an cư… Ni trưởng là người có tư tưởng tiến bộ lại tiếp thu nguồn giáo dục cách tân trong những năm theo học ở Huế. Miền Trung, cụ thể ở Huế lúc bấy giờ, thực dân Pháp chính thức công nhận tư cách pháp nhân của Hội An Nam Phật học vào ngày 10/8/1936, bằng Nghị định số 394-S. Từ đây hội đi vào hoạt động mạnh mẽ với nhiều công tác và một trong những nhiệm vụ thiêng liêng, trọng yếu của hội là giáo dục Phật giáo.
Ni trưởng là thế hệ học Ni đầu tiên của Ni viện Diệu Đức cùng thời với các Ni trưởng lớn ở miền Trung như: Sư Diệu Trí, Sư Cát Tường, Sư Từ Hạnh… Ni trưởng được tiếp nhận những tinh tuý trong giáo lý Phật giáo mà các ngài truyền trao, thêm vào đó, ngay tại thời điểm phong trào chấn hưng Phật giáo đang diễn ra ở Huế. Bản thân của Huế lúc bấy giờ, không đơn thuần chỉ là chư Tăng Ni trong Giáo hội tham gia chấn hưng mà còn nhiều tầng lớp khác. Tầng lớp chấn hưng theo tinh thần đưa Phật giáo phát triển còn có một bộ phận trí thức, văn sĩ, nhà yêu nước như: Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Lê Đình Thám, Trương Xướng hay hoàng tộc như Ưng Bình, và một số phụ nữ tiến bộ như Công Tôn Nữ Thị Bân, hồthị Thể Anh, Nữ sĩ Đạm Phương, hay Sư Thích Nữ Diệu Không…[6]. Tất cả những gì diễn ra ở Huế, không ít thì nhiều đã ảnh hưởng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp lên một học Ni đương học sở tại như Sư Từ Hương. Chính vì thế, trong suy nghĩ của chúng tôi chắc chắn một điều, Ni trưởng muốn cách tân và hợp với thời đại nhưng không đi xa truyền thống. Cho nên, Ni trưởng là một nhân tố quan trọng góp phần vào những thành quả tốt đẹp của Ni giới Lâm Đồng. Bản thân là một người nữ lại là một nữ tu đạo giải thoát, Sư nhận chân được tầm quan trọng của giới luật, sự cần thiết của sự nghiệp tiếp dẫn hậu lai. Trong các giới đàn thọ giới, Ni trưởng có khi là giáo thọ A-xà-lê, Yết-ma, rồi Đàn chủ và Hoà thượng Đường đầu như năm Ất Mão (1975), Ni trưởng được cung thỉnh làm Đệ Ngũ tôn chứng tại giới đàn chùa Từ Nghiêm-Sài Gòn. Vào các năm Giáp Tuất (1994), Kỷ Mão (1999) và Quý Mùi (2003), trải qua những Đại giới đàn và các Trung, Tiểu giới đàn được tổ chức trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Ni trưởng cảm nhận sâu sắc hơn về trách nhiệm góp phần xây dựng những trụ cột cho ngôi nhà chánh pháp. Vì thế, bên cạnh truyền trao giới pháp, Sư còn trùng kiến ngôi Linh Phong Tam bảo được khang trang đầy đủ tiện nghi để chư Ni trở về tu họcvà sinh hoạt. Thật là một người của công việc, Ni trưởng đã từng đảm nhận các chức vụ: Phó Ban Trị sự, Phó Ban Hoằng pháp Tỉnh Hội Lâm Đồng (1951- 1954). Năm 1955- 1956, Sư là Trưởng ban Từ thiện Tỉnh hội Lâm Đồng. Năm 1957, Sư được cung thỉnh làm Giáo Trưởng Ni Bộ Tuyên Đức, Ni trưởng còn là trưởng Ni bộ Giáo hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng, viện chủ Tổ Đình Linh Phong thành phố Đà Lạt. Bao nhiêu chức vụ không phải là tên gọi, là trang trí mà cả một chuỗi dài cống hiến của Ni trưởng. Nhưng tâm nguyện của Ni trưởng là:
Nhạn quá trường không, Ảnh trầm hàn thuỷ, Nhạn vô di tích chi ý.
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.
(Nhạn bay trên không, Bóng chìm đáy nước.
Nhạn không ý để dấu, Nước không tâm lưu bóng.)
Đối với ngôi cổ tự Linh Phong
Linh Phong (ngọn gió linh thiêng) là ngôi chùa nằm ẩn mình trên một đồi thông xanh ngát, hiện nay toạ lạc ở địa chỉ số 72 C đường Hoàng Hoa Thám, Thành phố Đà Lạt. Chùa sư nữ Linh Phong không chỉ là một trong những ngôi chùa đẹp ở Cao nguyên Lang Biang (Cao nguyên Lâm Viên), mà còn ở khu vực Cao nguyên miền Nam hay gọi là vùng “Hoàng triều cương thổ”. “Sau khi thực dân Pháp trả các tỉnh Cao nguyên cho vua Bảo Đại, vua đã ký đạo dụ số 6 ngày 15/04/1950 và sắc lệnh số 3 ngày 25/07/1950 đặt các tỉnh thuộc khu vực Cao nguyên thành địa phận gọi là Cao nguyên miền Nam thuộc Hoàng triều cương thổ: ngày 25/07/1950, chính quyền bù nhìn Bảo Đại ký sắc lệnh số 3, đặt các tỉnh Đăk Lăk, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên, Pleiku và Kon Tum thành một địa phận hành chính riêng gọi là Cao nguyên miền Nam thuộc Hoàng triều cương thổ. Ngày 21/5/1951” [7].
Chùa cách trung tâm thành phố khoảng sáu km. Nguyên sơ, Linh Phong là một thảo am do Hoà thượng Bích Nguyên lập vào năm 1940. Đến năm 1946, Hoà thượng chuyển giao cho Ni trưởng Từ Hương. Người lập nên sự trang nghiêm thanh tịnh về chánh báo và y báo cũng là Ni trưởng Từ Hương. Chiến tranh, đạn lạc, súng rền, thân mạng còn khó bảo toàn thế mà sư đã biến ngôi chùa tranh trở thành nền móng đầu tiên của Ni giới Lâm Đồng, phát quang lộ cho chư ni trong quá trình hoằng hoá vùng cao. Ai ngờ được rằng, trên đỉnh núi thiêng xuất hiện ngôi phạm vũ nguy nga từ bàn tay bé nhỏ của vị ni, đúng là: có sức người sỏi đá cũng thành cơm. Hiện giờ Linh Phong không những là nơi tu học của chư ni mà còn là nơi du lịch tâm linh, chốn yên bình để trở về nương náu. Chùa có lối kiến trúc mang đặc điểm nghệ thuật miền Trung. Từ bên ngoài vào là cổng tam quan được làm bằng đá hộc nằm trên sườn đồi, muốn lên chùa có hàng chục bậc thang dẫn lối (dựng năm 1949). Chùa xây năm gian, trung tâm chính điện thờ tượng Phật A Di Đà bằng cẩm thạch trắng cao 1,8m (tôn tượng vào năm 1949), hai bên thờ Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí đều đúc bằng đồng (1955). Phía sau chính điện có hai dãy là khách đường và tham vấn đường dùng để sinh hoạt chung. Mái chùa được trang trí bằng hình tứ linh và được khảm sành sứ. Chùa được xây cách qua nhiều giai đoạn, đến năm 1962, toàn bộ công trình đi vào ổn định, chúng đệ tử của Ni trưởng đã kế thừa và phát triển như sư Huệ Phước, sư Huệ Huyền cho đến tận hôm nay.
2.2.2. Những đóng góp đối với đời sống xã hội
Đạo và đời tuy hai mà một, đời nhờ đạo phát triển tâm linh, đạo nương đời gieo giống Bồ-đề (Bất ly thế gian giác, ly thế mích bồ đề, cáp như tầm thố giác).
Từ thời Phật còn tại thế, công tác thiện nguyện không phát triển rõ ràng nhưng Thế Tôn vẫn luôn xiển dương, vì đây là công hạnh của một Bồ-tát. Đã là người xuất thế không thể quên pháp lợi tha, bố thí. Bố thí có nhiều cách, nhưng bố thí tài vật vẫn luôn được ủng hộ đồng tình của số đông. Xét về mặt hiện lượng, đây là một hình thức rất thiết thực và gần gũi, là con đường đem đạo vào đời cho những người bước đầu tìm đạo. Ni trưởng Từ Hương, ngoài những Phật sự của Tam bảo Linh Phong, của Giáo hội còn quan tâm đến đời sống của đồng bào. Chính vì những việc làm đó, sự nghiệp độ sanh của Ni trưởng ngày một thăng hoa.
Hoạt động từ thiện:
Không là lương y nhưng lại là từ mẫu. Mỗi tháng, Ni trưởng cùng đại chúng làm cơm, phát những vật phẩm đến cho bà con lối xóm thuộc diện nghèo, mất khả năng lao động, những người yếu thế. Tuy số lượng không phải quá lớn nhưng lại diễn ra đều đặn, và là cơ sở, là niềm tin cho bà con tự mình cố gắng vượt lên chính mình. Vì rằng, cho vật chưa phải là cho mà còn thể hiện ở cách cho, theo nhà Phật cách bố thí được đóng khung trong nghĩa “tam luân không tịch”. Cho nên, công tác thiện nguyện ngày một phát triển kéo theo sự phát triển tâm linh cho đối phương thọ nhận vật bố thí. Những cô bé cậu bé mồ côi cha, mồ côi mẹ, không nơi nương tựa, những quyển tập, cây bút, cây chì, hay chiếc áo mùa đông, đôi dép nhỏ… Những cụ già không ai chăm sóc, mắt lờ mờ đăm chiêu buồn vì số phận, những người công nhân lao động vất vả vẫn không độ qua ngày… Nhìn rất đơn giản nhưng chan chứa tình thương, một tình thương đồng loại người với người và một tình thương cao quý hơn, cấp độ hơn là Bồ-tát hoá thân và chúng sanh cần độ. Có thể gọi Sư với những lời giản đơn mà gần gũi, quê mùa nhưng chất phác, là Bồ-tát hoá thân từ những mãnh đời như thế. Và rồi còn nữa, hành trình của sư chỉ dừng lại khi trái tim ngừng đập, đôi mắt nhắm lại.
Xây chẩn y viện
Có bệnh phải uống thuốc, nếu bệnh tâm chữa bằng pháp dược, bệnh về thân phải cần uống thuốc. Tư duy và hành động đồng nhất, năm Mậu Tuất (1958) Ni trưởng đã quyết định xây dựng ký nhi viện Nhị Trưng cấp thuốc, chăm sóc các bé thuộc diện khó khăn. Năm Nhâm Tý (1972), Ni trưởng cho xây cất Ký nhi viện Huệ Viên ngay trong khuôn viên chùa để giúp các em nhỏ trong lối xóm. Mặc dù chỉ những lần khám chữa bệnh mang tính sơ cứu, hay những viên thuốc cũng đồng tính chất tạm thời cấp thiết nhưng công việc ổn định, được bà con tin tưởng, được quý nhà hảo tâm ủng hộ, mạnh thường quân chia sẻ. Vì vậy, ký nhi viện đi vào hoạt động khá dài và đạt hiệu quả rất khả quan [8].
Kết luận
Bầu trời có lúc xuất hiện những tinh tú khác thường, trong nhân gian có lúc xuất hiện bậc vĩ nhân hoặc những con người vĩ đại. Dẫu Ni trưởng không phải vĩ nhân, nhưng Ni trưởng thực hiện đúng sứ mệnh của bản thân khi hiện diện tại Ta bà, đất nước Việt Nam này. Là một con người bình thường nhưng đã làm nên những điều quá đổi phi thường. Nếu thời đại này, thời 4.0 lên ngôi, công nghệ số, tất cả đều được xử lý bằng thiết bị thông minh cũng chưa có thể tìm ra một Thích nữ gan dạ, kiên trì và vững tâm trong đạo hạnh và đạo nghiệp như thế. Tại sao, người viết khi đề cập đến những đóng góp của Ni trưởng, người viết đề cập sự ra đời của sở tại, nơi Ni trưởng hành đạo. Vì rằng, buổi đầu Lâm Đồng là vùng dân số phát triển chậm mà lại là dân tộc thiểu số chiếm đa phần, chưa kể đến những lần di dân, ngụ cư cũng chiếm không nhỏ về số lượng. Một nét đặc thù nữa, Lâm Đồng là miền Cao nguyên, núi non bạt ngàn hiểm trở, tuy đẹp nhưng không phải không nguy hiểm trong những ngày đầu khai sơn lập địa. Khẳng định sự khó khăn chồng chất, khó khăn về mặt xã hội như thế thì Phật giáo không hề ngoại lệ. Thế nhưng, đã có rất nhiều vị Tăng đã phát nguyện lên đó hành đạo, vị Ni tiêu biểu là Ni trưởng. Tâm nguyện của Ni trưởng hậu bối khó quên, chỉ lấy đó làm tấm gương để phản quang tự kỹ, suy nghĩ: Ta là ai, đến trong thế giới này để làm gì và khi ta đi sẽ lưu lại gì cho nhân thế, thiện lành hay bất thiện? Cứ mãi suy nghĩ…
TS. Thích Nữ Minh Thuận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tạp chí Viên Âm, số
- Trần Sỹ Thứ (2008), Địa chí Đà Lạt, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
- Hội thảo khoa học, nhiều tác giả (2024), Thiền phái Liễu Quán lịch sử hình thành và phát triển, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
- Thích Minh Châu (1988), Kinh Tăng Chi bộ III, Phẩm Gotamī,Viện NCPHVN.
- Từ Bi Âm, số
- Tỳ-kheo ni Như Đức (2009), Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam, Nxb. Tôn giáo.
- Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng biên soạn (Tu trai Nguyễn Tạo phiên dịch (1960), Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt, Nxb. Nhà văn hóa Bộ quốc gia Giáo dục,
- Lê Anh Tuân (Thích Đức Hạnh) (2025), Quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Lâm Đồng, Luận văn Thạc sĩ Phật học, chuyên ngành Lịch sử Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.

















































