“Thân tánh thập thất
Hữu hà giao thiệp
Hàng phục ba tuần
Toàn bằng cừ lực
Chấn động ma cung
Liễu vô luân thất
Nguy nguy đường đường
Quang thư hóa nhật.”
Dịch:
“Thân tánh mười bảy,
có gì quan hệ?
Hàng phục vua ma,
toàn nhờ đạo lực.
Rung động cung ma.
Chẳng ai so bằng,
lỗi lạc đường hoàng.
Sáng như mặt nhật.”
Tứ Tổ Thiền tông Ưu Ba Cúc Đa. Ngài dòng Thủ-Đà-La ở nước Sất-lợi, cha tên Thiện-Ý, mẹ là Ưu Chí Liên. Trước khi sanh Ngài, thân phụ nằm mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà. Sau 98 năm từ khi Đức Phật nhập diệt, Ngài ra đời tại xứ Mathura nước Sất-lợi.
Thủơ bé Ngài mặt mũi khôi ngô, tánh tình thuần hậu, trí huệ minh mẫn. Khoảng 12 tuổi, Ngài được gặp Tổ Thương-Na-Hòa-Tu đến tận nhà và dạy cho Ngài phương pháp buộc niệm: “Nếu khởi ác tâm, bèn quán tướng có một viên đá đen ở bên trái, nếu khởi thiện tâm, quán một viên đá trắng bên phải.” Ngài vâng làm như vậy, ban đầu đá đen nhiều, dần dần bằng nhau và sau này trắng nhiều. Thoạt đầu đá đen rất nhiều, quán đến ngày thứ bảy, chỉ thấy tướng đá trắng.
Thấy rõ nhân duyên chín muồi Tổ Thương-Na-Hòa-Tu bèn thuyết pháp Tứ Đế, ngay khi đó, Tổ Ưu Ba Cúc Đa bèn chứng quả Tu Đà Hoàn. Ngài lần lượt quán các pháp khổ, không, vô thường, vô ngã, chứng lần lượt từ Nhị Quả đến quả A Na Hàm.
Năm 17 tuổi, Ngài xin Tổ Thương-Na-Hòa-Tu xuất gia. Tổ hỏi: Ngươi được bao nhiêu tuổi?
Ngài thưa: Bạch thầy, con được 17 tuổi.
– Thân ngươi 17 tuổi hay tánh ngươi 17 tuổi?
Ngài hỏi lại: Đầu thầy tóc bạc, vậy tóc thầy bạc hay tâm thầy bạc?
Tổ bảo: Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc
– Con cũng thế, thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi.
Biết đây là bậc pháp khí Tổ bèn hoan hỷ nhận cho xuất gia làm thị giả.
Đến 20 tuổi, Ngài thọ giới cụ túc và ngộ đạo chứng A La Hán Quả. Tam Tổ bảo: Xưa Đức Thế Tôn đem chánh pháp vô thượng truyền cho Tổ Ca-Diếp. Tổ Ca-Diếp truyền lại cho thầy của ta là Đức A-Nan, thầy ta truyền cho ta và nay ta truyền lại cho ngươi chánh pháp này. Ngươi cố gắng hộ trì đừng để đoạn dứt. Hãy nghe bài kệ đây:
Chẳng pháp cũng chẳng tâm
Không tâm cũng không pháp
Khi nói tâm pháp ấy
Là pháp chẳng tâm pháp.
Ngài được pháp rồi tùy duyên đi các nơi cảm hóa chúng sanh. Ngài lại có trí tuệ thông minh, tu chứng Phật pháp, lời nói của Ngài không những mạch lạc rõ ràng khiến người nghe cảm động mà còn khéo léo đưa người vào đạo. Không bao lâu, đã có một vạn tám ngàn người được Ngài giáo hóa xuất gia tu chứng quả vị A-la-hán. Còn những người tại gia thọ sự giáo hóa của Ngài thì vô lượng vô số. Sức cảm hóa của Ngài khiến nhân dân trong nước Ma-đột-la hết lòng tán thán ca ngợi. Những nước gần xa cũng đều được nghe danh và khâm phục kính nể. Ngài được đồ chúng và những người ngưỡng mộ tôn phụng là Vô Tướng Hảo Phật. Danh hiệu Vô Tướng Hảo Phật được truyền bá rộng rãi từ đấy, cho nên, có lời tôn sùng rằng: “Sớm nghe tên Vô Tướng Hảo Phật, chiều chết cũng xứng đáng.”
Ngài trụ tại núi Ưu Lưu Mạn Trà ở nước Mathura thuyết pháp. Đồ chúng đông đến một vạn tám ngàn người. Ngài từng thuyết pháp cho vua nước Hoa Thị, chỉ bày các dấu tích cũ của Phật, dựng tháp cúng dường Phật và các đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan… Số tháp dựng nhiều đến tám vạn bốn ngàn cái. Theo các nhà nghiên cứu hiện thời, tôn giả Mục Liên Tử Đế Tu, thầy của vua A Dục, rất có thể chính là tôn giả Ưu Ba Cúc Đa, bởi lẽ danh hiệu Mục Liên Tử Đế Tu chính là ghép tên của ngài Mục Liên và họ của ngài Xá Lợi Phất. Theo truyện ký, ngài Ưu Ba Cúc Đa trí huệ như Xá Lợi Phất, thần thông như Mục Liên, nên rất có thể cổ nhân dùng danh xưng Mục Liên Tử Đế Tu để xưng dương tổ Ưu Ba Cúc Đa.
Ngài cảm hóa rất đông dân chúng quy hướng Phật pháp, rất nhiều người đã chứng đạo quả. Những khi Ngài thuyết pháp, chư thiên rải hoa, quả đất rúng động, khiến cung ma cũng bị chấn động. Vua ma e sợ Phật giáo thịnh hành thì bè đảng của chúng bị tiêu diệt, hiện tại chúng thấy Ưu Ba Cúc Đa là vị Tăng mới xuất gia, hoằng pháp không biết cao siêu thế nào mà có thể làm chấn động người đời quy y tín ngưỡng, chúng rất phẫn nộ nên quyết dùng hết thần lực phá hoại Phật pháp.
Ma bèn hiện các ngọc nữ đến làm nhiễu loạn tâm thính giả. Ngài liền nhập định để quán sát nguyên do. Được cơ hội thuận tiện, ma đem vòng chuỗi anh lạc quàng vào cổ Ngài. Xuất định, Ngài dùng thần lực biến ba thây chết là người, chó và rắn thành một tràng hoa đẹp. Ngài dùng lời diệu ngọt bảo ma: Ngươi sẵn lòng tốt đem chuỗi anh lạc rất quý tặng ta, giờ ta biếu lại ngươi tràng hoa đẹp này, gọi là thù tạc nhau. Vua ma nghe rất mừng, đưa cổ nhận tràng hoa.
Tràng hoa tròng vào cổ giây lát hóa thành thây thúi, giòi tửa rất ghê tởm. Vua ma kinh sợ, muốn cởi ra mà cởi không được, dùng hết thần lực cũng không cởi nổi. Túng thế, vua ma chạy lên cõi trời Dục cầu cứu với vua Trời, rốt cuộc không kết quả. Lần lượt vua ma cầu cứu đến Trời Phạm.
Vua các Trời đều bảo: Pháp ấy là do đệ tử Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu làm sao trừ được.
Vua ma nghe phán như vậy lại hỏi: Thế thì làm thế nào gỡ ra?
Vua Trời khuyên hãy quay về chỗ Ngài Ưu-bac-cúc-đa nhờ hóa giải. Vua ma theo lời dạy chí thành lễ tạ sám hối. Ngài bảo: Thánh trước dạy ta hàng phục ngươi. Tuy vậy, nếu ngươi biết cải thiện là được thờ phụng Phật, khỏi sa vào đường dữ.
Vua ma nghe dạy vui vẻ thưa: Tôn giả vì con làm lợi ích lớn, cúi xin Tôn giả cởi vòng thây thúi giùm con.
Ngài dạy: Vậy ngươi phải quỳ gối chắp tay tự xướng ba lần quy y Tam bảo đi. Vua ma quỳ gối chắp tay xướng ba lần quy y Tam bảo xong, thì vòng thây thúi biến mất. Vua ma vui mừng nhảy nhót đảnh lễ.
Tổ nói với vua ma Ba Tuần: “Ta sanh ra đời không gặp được Đức Phật; khi Đức Phật đang giáo hóa ở thế giới này, ông đã từng theo phá Đức Phật. Nay ông đã giác ngộ được “Yếu chỉ Thiền tông”, ông cố gắng sống với Phật tánh của chính mình, đừng làm ma làm quỷ biến hình hiện tướng, mê hoặc người khác mà phải bị đi trong sáu nẻo luân hồi không biết đâu là ngày cùng.”
Tổ Ưu-ba-cúc-đa nói tiếp với vua ma Ba Tuần: “Tuy nhiên, vì lòng kính trọng Đức Phật, ta có lời yêu cầu ông hãy giúp ta xem lại hình ảnh Đức Phật ngày trước được không?”
Vua ma Ba Tuần trình thưa với Tổ: “Việc con tái hiện lại cảnh Đức Phật và giáo đoàn đối với con thật không khó.”
Tổ bảo:
– Vậy ông tái hiện lại cảnh Đức Phật và giáo đoàn di hành ngày trước để ta xem đi.
Vua ma Ba Tuần trình thưa với Tổ:
– Thầy hứa với con một điều, khi thầy thấy Đức Phật và giáo đoàn di hành qua trước mặt thầy, thầy đừng đảnh lễ thì con mới dám thực hiện, nếu thầy đảnh lễ con sẽ bị tổn phước rất lớn.
Tổ Ưu-ba-cúc-đa hứa với vua ma Ba Tuần là Ngài sẽ không đảnh lễ khi thấy giáo đoàn và Đức Phật di hành qua.
Vua ma Ba Tuần và đoàn tùy tùng của Ngài đi vào rừng. Một lát sau, từ mé rừng xuất hiện Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và giáo đoàn 1.250 vị, ăn mặc rất nghiêm trang, Đức Phật có ánh hào quang sáng rực, lần lượt đi ra, tỏa mùi thơm kỳ diệu không thể nào diễn tả được, Đức Phật và giáo đoàn di hành qua trước mắt Tổ. Bất giác, Tổ cúi đầu đảnh lễ, ma hoảng kinh biến mất….
Nhân chuyện này Tổ Ưu-ba-cúc-đa dạy đại chúng: “Ta đã là Tổ mà chưa làm chủ được vọng tưởng của chính mình huống chi các ông. Các ông cẩn thận khi tu niệm Phật, các ông lấy lời dạy sau đây của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì chắc chắn tu không lạc đường tà mê:
– Nhược kiến tướng, phi tướng, tức kiến Như Lai.
Tạm dịch: Nếu thấy tướng mà không phải tướng là thấy được Như Lai, tức là Phật.
Lúc hóa đạo, mỗi khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật pháp Ngài để vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài 18 thước tay bề ngang 12 thước tay. Thế mà một thời gian thẻ tre đầy cả thất.
Sau cùng, Ngài độ ông Hương Chúng, con một vị trưởng giả, nhân thân phụ ông Hương Chúng mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà, nên Ngài đổi hiệu là Đề-đa-ca. Ngài truyền lại cho Đề-đa-ca làm Tổ sư Thiền tông đời thứ năm, với bài kệ truyền pháp:
“Tâm tự bổn lai tâm,
Bổn tâm phi hữu pháp.
Hữu pháp hữu bổn tâm,
Phi tâm phi bổn pháp.”
Dịch:
Tâm là vốn tự xưa nay,
Bổn Tâm chẳng có pháp này pháp kia.
Nếu có pháp, tâm chẳng lìa,
Không tâm thì pháp chẳng hề hiện ra.
Sau khi truyền pháp cho tôn giả Đề-đa-ca, ngài liền bay lên hư không thị hiện mười tám phép thần biến, rồi trở lại tòa ngồi kiết già, an nhiên thị tịch. Đề-đa-ca và môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu thiêu Ngài, thiêu xong lượm xá lợi xây tháp cúng dường.
Ấu thời xuất gia ngộ tổ truyền
Đẩu tẩu tinh thần vong thụy miên
Thân tính thập thất đa ngôn thuyết
Phát tâm bạch da nãi hí đàm
Cơ giáo tương khấu khế chân lý
Sư tư đạo hợp diễn diệu huyền
Pháp bổn lưu biến tam thiên giới
Thập phương phổ hóa tục tuyệt thuyên.
Dịch:
Tuổi trẻ xuất gia gặp Tổ truyền
Đầu đà tu khổ ngủ thường quên
Hỏi rằng mười bảy, thân hay tánh?
Vặn lại, bạc là tóc hay tâm?
Cơ phong qua lại bầy chân lý
Đạo hợp sư đồ diễn diệu huyền
Pháp trùm khắp cả ba ngàn cõi
Mạch đạo khơi thông chẳng tuyệt dòng.
Thích Nữ Chân Mỹ
Sc Nhuận Anh diễn đọc


















































