Cao cả thay! Chư Phật giáng sinh
Cao cả thay! Giáo pháp cao minh
Cao cả thay! Tăng già hòa hiệp
Cao cả thay! Tứ chúng ghép mình1.
Thật là diễm phúc cho chúng con, sanh ra trong thời cách Phật rất xa, gần ba ngàn năm lịch sử. Với ngần ấy thời gian, bụi trần đã bám đầy tâm tánh sáng suốt của chúng con. Đã bao kiếp chúng con trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Chỉ vì Lục căn khi tiếp xúc với Lục trần, chúng con đã gây ra nhiều tội lỗi.
Hạnh phúc thay! Nơi vườn Lâm Tỳ Ni, xứ Ấn Độ, Tất Đạt Đa, con Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da, chào đời với niềm hoan hỷ vô biên, phải chăng chỉ có Vua, quan, thần dân vui mừng, hay cả muôn loài vạn loại hàm linh đều hân hoan chào đón?
Lớn lên, Thái tử Tất Đạt Đa nhìn thấy cuộc đời là vô thường và nợ tạm bợ của kiếp người, nên Ngài đã nhất định quyết chí xuất gia, bỏ lại sau lưng cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con thơ, dấn thân đi tìm con đường tươi sáng để thoát ly sinh tử luân hồi. Ngày mong chờ đã đến, sau bốn mươi chín ngày tư duy Thiền định. Ngài đã thấu rõ được chân tướng của vũ trụ nhân sinh và chứng được đạo Bồ đề. Sau khi thành đạo, Ngài chu du khắp chốn thuyết pháp độ sanh, chuyển mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Nếu chúng sanh nào đầy đủ duyên lành quay về ngôi Chánh giác, theo lời Đức Thế Tôn chỉ dạy, thì sẽ được an vui hạnh phúc.
Ngài ra đời khai thị chúng sanh
Bỏ mê, quay Chánh, kết duyên lành
Vạn kiếp luân hồi trong sanh tử
Bối trần, hiệp giác, đến vô sanh.
Đức Phật thị hiện vào đời giới thiệu: “Tri kiến Phật” của chúng sanh, cho chúng sanh nhận biết. Ngài đã dùng vô lượng ngôn từ, vô lượng tỷ dụ, để giáo hóa chúng sanh, từ thấp lên cao. Trong quá trình thuyết pháp độ sanh, Ngài đã dùng “Tứ Tất Đàn” một cách vô cùng khéo léo và phong phú. Nhờ vậy, mà mọi căn cơ đều được thấm nhuần mưa pháp.
Đối với hàng căn cơ thấp kém, chưa hiểu nhiều về Phật pháp, Ngài dùng “Thế giới tất đàn”, Ngài dạy họ ăn chay để tăng trưởng lòng Từ bi, khuyên họ giữ gìn năm giới cấm, thì gia đình sẽ được hạnh phúc.
Ví dụ: như mình muốn được sống lâu, thì mình không nên giết hại. Vì sao? Vì người ham sống con vật cũng muốn sống, mình không cướp đoạt mạng sống của chúng, mà còn phóng sanh, tăng trưởng mạng sống cho chúng, tức là mình tăng trưởng tuổi thọ cho mình vậy thôi.
Trong năm giới cấm Đức Như Lai chế ra, là để bảo tồn hạnh phúc cho mình và tất cả chúng sanh. Nếu mình giữ trọn vẹn năm giới:
– Không sát sanh mà còn phóng sanh.
– Không trộm cướp mà còn bố thí.
– Không tà dâm mà cò giữ gìn tịnh hạnh cho người khác.
– Không nói lời dối trá, chỉ nói lời chân thật lợi mình, lợi người.
– Không uống rượu say sưa, cố gắng giữ gìn không cho trái phạm.
Đức Phật thuyết pháp, đúng thời, tùy đối tượng, hợp căn cơ, cho nên, Ngài nói pháp mỗi người, mỗi lúc khác nhau. Vì vậy mà pháp của Phật không thể suy lường phân biệt, hời hợt, mà có thể hiểu được.
– Vị nhân tất đàn: vì người muốn học hỏi những điều cần biết, thì Đức Phật vì người ấy, nhân cơ hội đó, mà thuyết một bài pháp cho thính chúng cùng nghe. Ví như Kinh chăn trâu chẳng hạn.
– Đối trị tất đàn: đứng trước người có tâm xan tham, thì Đức Phật thuyết cho chúng hội nghe về lợi ích của sự bố thí. Cùng sự đơn độc của người xan tham và kết quả bị mọi người tránh xa, không ai thân cận để kết giao bè bạn.
– Đệ nhất nghĩa tất đàn: Ngài hướng dẫn cho chúng sanh hiểu rõ về “Tri kiến Phật” của mình, trong mỗi chúng sanh đều có tánh Phật. Khi mới thành đạo dưới cội Bồ đề, Ngài thấy rằng: “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Nên Ngài đã vận động “Tứ tất đàn” nói pháp giáo hóa chúng sanh từ thấp lên cao. Ngài khuyến hóa sách tấn chúng sanh sống bằng “Tri kiến Phật” của chính mình. Đó là lý do cực kỳ quan trọng mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện ra đời, chỉ dạy cho chúng sanh tìm về cội nguồn, về nơi mà ngày xưa chúng ta xuất phát ra đi.
Ví như một tấm gương bản thân nó trong sáng, nhưng vì để một thời gian không quét dọn, không lau chùi, bụi trần bám chặt mỗi ngày, tấm gương trong sáng kia mờ dần theo năm tháng. Tình cờ có một người đến xin ở, lau chùi bụi bặm của thời gian, tấm gương kia trở lại nguyên hình của nó, sáng trong không tỳ vết.
Chúng con và tất cả chúng sanh cũng vậy, bụi trần thời gian đã phủ dần từ bao thế kỷ, nay chúng con có đủ duyên lành “sanh phùng trung quốc trưởng ngộ minh Sư, chánh tín xuất gia, đồng chơn nhập đạo”. Đó là điều may mắn, được diễm phúc biết bao, ví như con rùa mù ngàn năm, gặp được bộng cây nổi.
Dập dồi sóng nước mênh mông
Dấu chân vạn dặm, từng không phai mờ
Như Lai là chỗ tôn thờ
Rùa mù được vớt, nương nhờ chơn như.
Vâng! Chơn như hay Phật tánh vốn sẵn trong mỗi chúng sanh, nhưng vì say mê rong ruổi theo bóng dáng của Lục trần (sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp). Rồi trôi lăn trong biển khổ luân hồi, lang thang như chàng Cùng tử (Kinh Pháp Hoa) bỏ nhà đi hoang, tìm chỗ làm công, để tìm cuộc sống, bữa đói, bữa no, cam lòng làm người cùng tử. Nhân một ngày kia tìm đến nhà cha mình là ông Trưởng giả. Thấy nhà ông này giàu có, của cải cho ra thâu vào hàng vạn, kẻ hầu người hạ túc trực bên ông. May thay ông Trưởng giả nhìn ra, nhận ngay là con của mình. Từ đó, ông Trưởng giả dùng phương tiện tiếp nhận chàng cùng tử, gọi đó là con, dạy dỗ ít lâu, cùng tử biết quán xuyến công việc trong nhà. Lúc ấy, ông Trưởng giả họp cả thân tộc tuyên bố lời rằng: “Cùng tử này xưa kia là con của tôi, trong lúc rong chơi bị thất lạc, tôi đã tìm nó khắp bốn phương, nay tình cờ gặp lại nó, vậy gia tài của tôi, từ nay thuộc về con của tôi”. Còn chúng con cũng như chàng cùng tử, xưa kia cùng Đức Như Lai ở chung một nguyên quán, bởi bối giác, hiệp trần, nên trí huệ ngày càng suy giảm, quên đi Chơn tâm, Phật tánh của mình, nay gặp lại Đức Như Lai xem như người xa lạ, chưa hề quen biết.
Kính lạy Đức Như Lai rộng lòng thương xót cho đàn hậu học chúng con. Vì vô minh che lấp, nghiệp dày phước mỏng, nay mới quay về, xin Ngài đoái thương dẫn dắt chúng con.
Lòng Từ réo rắt tâm can
Thích Ca Từ phụ phá tan ngục tù
Giam cầm sanh chúng thiên thu
Mở bày tánh Phật, khuyên tu tinh cần.
TKN. Phước Giác (ĐSHĐ-141)
- Bốn chúng đệ tử của Ngài đồng tu, đồng sống trong lục hòa, đồng giữ gìn giới luật.


















































