Mở đầu
Tại sao chúng ta phải học tập tư tưởng và đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về báo chí nói riêng?
Để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ không trích dẫn văn kiện của Đảng, các đồng chí có lẽ đã biết và đã nghe nhiều, mà tôi xin được kể một câu chuyện được nghe từ người Ấn Độ: Chuyện kể rằng có một con sư tử mẹ đang chuẩn bị chuyển dạ để hạ sinh một chú sư tử con. Lúc đó sư tử mẹ bị người thợ săn phát hiện và trở thành mục tiêu của người thợ săn. Sư tử mẹ kịp thời hạ sinh chú sư tử con trước khi bị người thợ săn bắn chết. Chú sư tử con ra đời không biết cha mẹ mình là ai, cuộc đời dường như chỉ toàn bóng tối, nhưng sau đó có đàn nai đi qua thấy chú sư tử con bơ vơ đã gọi chú đi theo bầy đàn của mình, chú sư tử con đi theo và lớn lên cùng với đàn nai, với suy nghĩ rằng mình là một con nai. Một hôm đàn nai gặp một chú sư tử to lớn trong rừng, chú sư tử này gầm lên khiến cả đàn nai sợ hãi chạy tán loạn, chú sư tử con cũng vô cùng sợ hãi khi lần đầu tiên nghe tiếng gầm của sư tử, chú sư tử lớn ngạc nhiên hỏi chú sư tử con: ngươi cũng là sư tử, tại sao người lại chạy? Chú sư tử con trả lời: Không tôi không phải sư tử, tôi là một con nai. Chú sư tử lớn nói: Ta và ngươi đâu có gì khác nhau, ngươi cũng là một chú sư tử, tại sao ngươi lại sợ ta, tiếng gầm của ngươi đâu rồi? Chú sư tử con vẫn khăng khăng: Không, tôi không phải sư tử, tôi là nai. Lúc này chú sư tử lớn dẫn chú sư tử con ra một dòng sông và bảo chú nhìn xuống bóng của mình dưới dòng sông: Ngươi hãy nhìn đi, xem ngươi và ta có gì khác nhau không? Chú sư tử con nhìn xuống và lúc này chú mới nhận ra mình chính là một chú sư tử, và nhận ra mình cũng có thể gầm như những chú sư tử khác, chú bắt đầu lấy lại được tiếng gầm của mình.
Câu chuyện này có vẻ như để dành cho thiếu nhi, nhưng bản thân tôi thấy khá thú vị. Câu chuyện có thể có nhiều thông điệp, nhiều cách hiểu khác nhau: đó có thể là thông điệp về khả năng thiên phú và cơ hội mà mỗi chúng ta đều được trao truyền ngay từ khi chúng ta sinh ra, ngay khi chúng ta vừa cất tiếng khóc chào đời, chỉ là chúng ta có nhìn thấy hay không, rằng ngay cả trong những tình huống tối tăm nhất chúng ta vẫn có thể nhìn thấy ánh sáng (chú sư tử sinh ra đã không có cha mẹ, những tưởng cuộc đời chỉ toàn bóng tối, nhưng chú cũng đã có cơ hội được lớn lên và có cơ hội tìm lại chính mình). Tuy nhiên, thông điệp mà tôi muốn nói đến trong câu chuyện này không phải là thông điệp về bóng tối và ánh sáng, mà là thông điệp rằng, để biết về chính mình, chúng ta cần có một người khác, cần có một tấm gương, giúp nhận ra chính mình, hiểu rõ hơn mình là ai. Chú sư tử lớn có thể mang tính biểu tượng để chỉ những con người vĩ đại, những tấm gương mà chúng ta có thể soi mình vào đó để phát hiện ra chính mình, để hoàn thiện chính mình. Những nhân vật vĩ đại này có thể thấy rất nhiều trong lịch sử Việt Nam cũng như trong lịch sử thế giới. Ở Việt Nam, chúng ta có Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở Ấn Độ chúng ta có Mahatma Gandhi, ở Nam Phi chúng ta có Nelson Mandela v.v…
Vì vậy, tôi nghĩ, việc nghiên cứu và học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là việc làm ý nghĩa thiết thực đối với mỗi người để chúng ta có thể soi mình vào Bác và hiểu hơn về chính mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là biểu tượng về ý chí, nghị lực và sự kiên trì bền bỉ với mục tiêu vì độc lập – tự do – hạnh phúc của nhân dân, vì một thế giới hòa bình. Bác là minh chứng cho thấy, một con người bình thường có thể làm những việc phi thường. Tôi nghĩ, Bác làm những việc phi thường một cách rất giản dị, bình thường. Điều đó khiến chúng ta có hy vọng rằng, học cách của Bác, chúng ta cũng có thể làm được.
Chúng ta có thể học Bác trên nhiều phương diện, Người xuất sắc trên hầu như mọi phương diện, Người không chỉ là nhà chính trị tài ba, Người còn là nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, nhà giáo vĩ đại. Không những thế, Người cũng là một nhà báo xuất chúng. Bác cũng chính là người sáng lập nền báo chí CMVN khi thành lập tờ Thanh niên ngày 21/6/1925. Chín mươi chín năm qua, đến nay, những lời dạy của Người về báo chí vẫn là tài sản quý của nền báo chí cách mạng Việt Nam1.
Trong cuốn sách nhỏ về Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền, GS. Nguyễn Như Ý nhận định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà báo lớn nhất, đặc sắc nhất của Việt Nam.
Thực vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã sáng lập các tờ báo: Le Paria (Người Cùng Khổ) (1922), Thanh Niên (21/6/1925), Việt Nam độc lập (1941)… Là Người sáng lập tờ báo đầu tiên của Việt Nam, Người đã trở thành nhà sáng lập của nền báo chí Cách mạng Việt Nam. Cuộc đời hoạt động Cách mạng của Người không tách rời hoạt động báo chí. Người làm báo là làm Cách mạng và để làm Cách mạng. Trong suốt 79 mùa xuân cuộc đời của mình, Bác có tới 52 năm làm báo, Người đã viết hơn 2000 bài báo, gần 300 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký, bằng các thứ tiếng khác nhau như Anh, Pháp, Nga, Trung, Việt, … với hơn 170 bút danh khác nhau. Từ lúc còn là người công nhân nghèo tuổi đôi mươi giữa Paris hoa lệ đến khi trở thành Chủ tịch nước, Người không ngừng viết báo. Người đã tìm ra con đường cứu nước nhờ đọc báo và bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp cứu nước khi nhìn thấy sức mạnh to lớn từ báo chí.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi báo chí là công cụ đắc lực để phục vụ hoạt động cách mạng. Thời nay chiến tranh đã qua đi, nhưng cuộc chiến với những cái xấu, cái ác thì chưa bao giờ dừng lại. Trong suốt lịch sử được ghi lại của loài người từ xưa đến nay, cuộc đấu tranh giữa hai phe thiện và ác chưa bao giờ dừng lại. Báo chí cũng là một công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh với cái xấu cái ác.
Bài trình bày này bao gồm 2 phần: (1) Trích dẫn những lời nói, phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí và (2) Khái quát tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí.
1. Trích dẫn những lời nói, phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng và viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của báo chí cũng như người làm báo.
• Về tầm quan trọng của báo chí:
– Năm 1947, trong thư gửi anh em trí thức Nam Bộ, Người khẳng định: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà2”.
– Ngày 8/9/1962, tại Đại hội Hội nhà báo lần thứ III, Người khẳng định: Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ3.”
– Năm 1962, trong thư gửi Hội nghị các nhà văn Á – Phi lần II ngày 10/2, Người viết: “Cây bút phục vụ chính nghĩa trong tay nhà văn chiến đấu có một lực lượng cực kỳ mạnh mẽ. Tôi tin chắc rằng Hội nghị các nhà văn Á – Phi sẽ góp phần quý báu trong việc trao đổi văn hóa giữa các dân tộc4.”
– Năm 1965, trong điện chúc mừng Ngày Nhà báo Á – Phi gửi Hội Nhà báo Á – Phi ngày 24/4, Người viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng5”.
– Như vậy, với Bác, người làm báo là một nhà cách mạng đặc biệt, vũ khí của họ không phải là súng đạn mà là cây bút và trang giấy.
• Về vai trò của báo chí và đạo đức người làm báo:
– Năm 1959, tại Đại hội Hội Nhà báo lần thứ II ngày 16/4, Người nhấn mạnh: Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung6”. Cũng tại Hội nghị này, Người nói: “… Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế, cho nên, tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.
Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên, phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu7.”
• Về cách viết báo:
– Tại Hội nghị Nhà báo lần thứ II năm 1959, Bác chia sẻ kinh nghiệm làm báo như sau: “Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam… Một đồng chí công nhân ở tòa báo Đời sống thợ thuyền cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ năm ba dòng thôi và bảo Bác có tin tức gì thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đăng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đăng trên báo so với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào…8 ” (Tạp chí NC Á – Phi trong kế hoạch cũng sẽ có mục Thông tin – sự kiện, mong được nhiều cán bộ trẻ gửi tin bài).
– Năm 1962, tại Đại hội Hội Nhà báo lần thứ III ngày 8/9, Người có hướng dẫn cụ thể về cách viết báo, làm báo sao cho có chất lượng: “… Muốn tiến bộ, muốn viết hay, thì phải cố gắng học hỏi, ra công rèn luyện. Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một tờ báo thì tự đặt câu hỏi:
+ Viết cho ai xem?
+ Viết để làm gì?
+ Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?
Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Tự ái tức là tự phụ, mà tự phụ là kẻ địch dữ tợn nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta9.”
Cũng tại Hội nghị này, Bác nói: “Có một vài cán bộ và cơ quan, vì sợ phê bình mà chẳng những không giúp đỡ người viết báo lại còn có thái độ không tốt với họ, thậm chí đi kiện họ trước tòa. Những hành động như vậy cần phải chấm dứt. Mặt khác, các báo cũng cần khuyến khích quần chúng giúp ý kiến và phê bình báo mình để tiến bộ mãi.
Sẵn đây, nếu các cô, các chú đồng ý, thì Bác xung phong phê bình các báo:
+ Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống”, không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng.
+ Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta.
+ Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng.
+ Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài; nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau.
…
+ Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng.
Đời sống xã hội ngày càng phát triển và đổi mới. Có những chữ ta không có sẵn và khó dịch đúng, thì cần phải mượn chữ nước ngoài. Thí dụ: độc lập, tự do, giai cấp, cộng sản, v.v… Còn những tiếng ta có, vì sao không dùng, mà cũng mượn chữ nước ngoài? Thí dụ: Không gọi xe lửa mà gọi “hỏa xa”; máy bay thì gọi là “phi cơ10”…
Hiện nay chúng ta cũng thường xuyên mắc lỗi diễn đạt khi sử dụng tài liệu tiếng Anh mà chuyển sang tiếng Việt không thuần Việt.
Cũng về cách viết báo:
– Năm 1947, trong “Sửa đổi lối làm việc”, Bác hướng dẫn: “Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn văn, nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu, những chữ thừa, vô ích bỏ đi.
Rửa mặt phải kỳ xát vài ba lần mới sạch. Viết văn, diễn thuyết cũng phải như vậy11.”
Bác nói thêm: “… Mỗi ngày, chúng ta ai cũng rửa mặt. Rửa mặt rồi, thì chải đầu. Nhiều người chải đầu rồi, còn soi gương xem đã sạch, đã mượt chưa. Nếu viết bài và diễn thuyết cũng cẩn thận như thế thì chắc không đến nỗi có nhiều khuyết điểm.
Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết.
Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn12.”
Về thói dài dòng, rỗng tuếch khi viết báo, Bác phê bình: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài13.”
– Năm 1949, trong thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng, Người cho rằng14: “Muốn viết bài báo khá thì cần:
1. Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể thiết thực.
2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài, để xem báo nước ngoài, và học kinh nghiệm của người.
3. Khi viết xong một bài tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu, thì sửa lại cho dễ hiểu.
4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ15… ”
– Tóm lại, theo quan điểm của Bác, viết báo cần phải đảm bảo các tiêu chí: có căn cứ, sát đối tượng, viết ngắn gọn, dễ hiểu, giản dị, cô đọng, súc tích; viết sinh động, lôi cuốn, thuyết phục; phải thẳng thắn và có tính chiến đấu. Người viết báo cần phải khiêm tốn sửa bài của mình và không ngừng học hỏi, mở rộng vốn hiểu biết.
– Trong bài giảng của Bác tại lớp chính Đảng Trung ương, ngày 17/8/1953, Bác nói về cách thu thập tư liệu để viết báo. Theo Bác, muốn có tài liệu để viết thì phải tìm, tức là:
1. Nghe: lắng tai nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết.
2. Hỏi: hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình ở các nơi.
3. Thấy: mình phải đi đến, xem xét mà thấy.
4. Xem: xem báo chí, xem sách vở. Xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài.
5. Ghi: những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã đọc được thì chép lấy để dùng mà viết. Có khi xem mấy tờ báo mà chỉ được một tài liệu thôi. Tìm tài liệu cũng như những công tác khác, phải chịu khó… Muốn có nhiều tài liệu thì phải xem cho rộng. Xem báo Trung Quốc, báo Liên Xô, báo Anh, báo Pháp… xem được nhiều thứ báo chừng nào thì lấy được nhiều tài liệu chừng ấy16.”
• Về cách phát hành:
Bác cũng chia sẻ kinh nghiệm của Bác về phát hành: “Có thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Paria”. Về cách bán báo, Bác chia sẻ: “Bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp, nhưng họ vẫn thích mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe. Một cách nữa là: Ở Pari có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Vì là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng và họ bán được khá nhiều. Các số báo Paria vừa ra đều được Bộ Thuộc địa Pháp mua gần hết… Cách thứ tư: Trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát rồi nói: ‘Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo thì chúng tôi cảm ơn.’ Kết quả là: Nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 ph-răng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 ph-răng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc 1, 2 ph-răng cũng cho cả17.”
2. Khái quát tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí
Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí tiếp tục soi đường cho hoạt động báo chí, tuyên truyền Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền có thể được khái quát ở 7 điểm lớn sau đây18:
Thứ nhất, báo chí nhất thiết phải mang tính chính trị, nó phải là tiếng nói, là cơ quan ngôn luận của một Chính phủ, một tổ chức xã hội nhất định và luôn đứng ra bảo vệ cơ quan, tổ chức xã hội đó bằng thái độ, lập trường của tổ chức mình, vì sự tiến bộ của xã hội. Ví dụ, Tạp chí nghiên cứu Á – Phi khi được thành lập trước hết phải là cơ quan ngôn luận của Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi, sau đó mới là diễn đàn khoa học của giới nghiên cứu về châu Á và châu Phi. Ngoài ra, đó còn là tiếng nói của người châu Á và châu Phi về chính mình.
Thứ hai, báo chí là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức, giáo dục ý thức chính trị cho quần chúng, tạo ra tính thống nhất tư tưởng và hành động trong xã hội để thực hiện những nhiệm vụ chung phát triển xã hội.
Thứ ba, báo chí là phương tiện phản ánh mọi hoạt động đời sống hàng ngày của xã hội, tạo ra sự tác động qua lại giữa quần chúng nhân dân với báo chí.
Thứ tư, báo chí phải có tính chiến đấu, luôn chống lại những luận điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc sự thật, tôn trọng sự thật, kiên quyết bảo vệ tư tưởng tiến bộ, đúng đắn, phê phán các tệ nạn xã hội, biểu dương cái tốt, chân, thiện, mỹ.
Thứ năm, báo chí phải có tính đại chúng, nội dung viết phải thiết thực, dễ hiểu, mọi người đọc hiểu được, làm được, hình thức sáng sủa, văn phong ngắn gọn, rõ ràng, sinh động, hấp dẫn, hợp với đối tượng, tư liệu phong phú, chính xác, lập luận chặt chẽ, thuyết phục.
Thứ sáu, mỗi tờ báo phải mang một màu sắc riêng, một cá tính riêng, không hòa lẫn với các tờ báo khác.
Thứ bảy, người làm báo phải có đạo đức cách mạng trong sáng, có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, hiểu biết rộng, tinh thông nghiệp vụ, không ngừng học hỏi, nhạy bén chính trị và phải biết ít nhất một ngoại ngữ, thận trọng trong viết lách, bình luận. Người làm báo cũng phải là người yêu nghề, có trách nhiệm với nghề, phải thông tin trung thực, khách quan. Mọi hoạt động của người làm báo phải nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng.
Kết luận
Có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh là một sự đúc kết đầy đủ và sáng tạo về những quan điểm có tính nguyên tắc trong hoạt động báo chí, tuyên truyền; đó là sự kế thừa, học hỏi các quan điểm của Mác-Ăng ghen- Lê nin về báo chí và là kết quả của quá trình trải nghiệm, hoạt động cách mạng và hoạt động báo chí của Người tại nhiều nước trên thế giới cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tới 52 năm làm báo, tính từ bài báo đầu tiên “nhỏ như bao diêm” đăng trên tờ báo Đời sống thợ thuyền năm 1917 ở Pháp đến bài báo sau cùng là “Thư trả lời Tổng thống Mỹ R.M. Nich-xơn” (Báo Nhân Dân, ngày 25/8/1969). Những hướng dẫn, chỉ dạy cụ thể của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nghề báo và người làm báo như trên vẫn còn nguyên giá trị cho tới hôm nay.
TS. Lê Thị Hằng Nga
Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi (ĐSHĐ-141)
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền, NXB. Thông tin và Truyền thông, 2023, tr.3.
- Nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh. https://www.qdnd.vn/da-phuong-tien/longform/nhung-nha-bao-nha-lanh-dao-lon-cua-dat-nuoc-nha-bao-vi-dai-ho-chi-minh-662677
- Báo Nhân dân, số 3089, ngày 9-9-1962, HCM Toàn tập, T.13, tr. 465-466.
- Thư gửi Hội nghị các nhà văn Á – Phi lần II, ngày 10/2/1962, báo Nhân Dân số 2583, ngày 13/2/1962, HCM Toàn tập, T.13, tr.339.
- Nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh. https://www.qdnd.vn/da-phuong-tien/longform/nhung-nha-bao-nha-lanh-dao-lon-cua-dat-nuoc-nha-bao-vi-dai-ho-chi-minh-662677.
- Như trên.
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền, NXB. Thông tin và Truyền thông, 2023, tr.25.
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền, NXB. Thông tin và Truyền thông, 2023, tr.26.
- Báo Nhân Dân, số 3089, ngày 9/9/1962, HCM Toàn tập, T.13, tr.465-466.
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền, NXB. Thông tin và Truyền thông, 2023, tr.27-28.
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), tr. 42.
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), tr. 46.
- Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh Toàn tập, T.5, tr. 339-341. GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), tr.79.
- Như trên.
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), tr. 49.
- Hồ Chí Minh toàn tập, T.8, tr.206-212. GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), tr. 86-90.
- GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền, NXB. Thông tin và Truyền thông, 2023, tr.26-27.
- Trích từ “Lời thưa cùng bạn đọc” trong tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền” do GS. TS. Nguyễn Như Ý chủ biên.
Tài liệu tham khảo
1. GS.TS. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, tuyên truyền, NXB. Thông tin và Truyền thông, 2023, tr.3.
2. Nhà báo vĩ đại Hồ Chí Minh. https://www.qdnd.vn/da-phuong-tien/longform/nhung-nha-bao-nha-lanh-dao-lon-cua-dat-nuoc-nha-bao-vi-dai-ho-chi-minh-662677
3. Báo Nhân Dân, số 3089, ngày 9/9/1962, HCM Toàn tập, T.13, tr.465-466.


















































