Lâng lâng thanh thoát tiếng chuông ngân
Thức tỉnh người mê rõ căn trần
Từ Nghiêm hùng vĩ qua năm tháng
Chốn Tổ quay về đặng báo ân.
Thật vậy, vào thập niên bảy mươi của thế hệ trước. Chúng con là những chú chim non khắp mọi miền đất nước, quy tụ về Ni trường Từ Nghiêm, đường Bà Hạt, quận 10 để trau giồi tam vô lậu học (Giới, Định, Huệ).
Hàng ngày, chúng con được uống những dòng sữa pháp từ những bậc Giáo thọ sư. Suốt ngày, chúng con được Sư trưởng thượng NHƯ hạ THANH và quý Sư bà thuộc Ban Quản viện Ni trường Từ Nghiêm uốn nắn về tứ oai nghi, quý Ngài lo cho mọi mặt từ vật chất lẫn tinh thần. Chúng con chẳng phải lo lắng gì cả, ngoài việc lo cho bản thân mình và lo tinh tấn tu học là quý Ngài mừng rồi. Tuy tuổi trẻ hồn nhiên, nhưng cũng có lắm điều nghịch ngợm, hay tổ chức những buổi tiệc trà vui chơi, quên cả giờ chỉ tịnh, để Ni sư Quản chúng thượng TỊNH hạ HẠNH đi tuần, nhắc nhở mới chịu về ngủ. Hay có lúc rung chuông đi đám lại trốn núp, để cho Ni sư Quản chúng năn nỉ, dỗ dành mới chịu đi. Ngày ấy chúng con khờ dại, đâu biết mình làm vậy là đã làm phiền quý vị Tôn túc. Hay những ngày nghỉ học, Sư trưởng về chùa Huê Lâm, chúng con muốn ra phố mua ít đồ dùng cá nhân và cũng để dạo chơi, rủ nhau xớ rớ ngoài phòng Ni sư Quản chúng, chờ Sư hỏi: “Các con đi đâu vậy?”, là tụi nhỏ có dịp xin: “Thưa Ni sư cho chúng con ra ngoài mua ít đồ cá nhân về dùng”. Nhìn mặt tụi nhỏ, Sư biết chúng nó muốn xin gì rồi. Sư bảo: “Các con ra ngoài lỡ gặp Sư trưởng thì sao? Cô bị rầy chết!”. Tụi nhỏ bắt đầu nhõng nhẽo: “Ni sư đẹp lắm, Ni sư có má lúm đồng tiền, chúng con rất thương, rất quý Ni sư”. Ni sư nở nụ cười hoan hỷ. Sư bảo: “Đẹp là đẹp cái gì? Thôi quý cô nhỏ, muốn đi thì xuống lo đi, nhưng nhớ về sớm nhé, để Sư trưởng bắt được là bị quỳ hương Quá đường đấy, còn cô thì bị Sư trưởng quở là không biết Quản chúng”. Ôi! Thật nhiều kỷ niệm vui buồn của thời Ni sinh dưới mái Ni trường Từ Nghiêm thân thương của thuở nào. Biết nói sao cho hết cái hay, cái đẹp, cái tình thân thiết của thuở đầu đời học đạo.
Mỗi lần làm lễ Bố tát, quý Sư bà nguyện hương, âm vang khi trầm, khi bổng, khói hương trầm quyện tỏa, uốn mình theo làn gió, thoang thoảng xa đưa khiến cho lòng người như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Hàng hàng, lớp lớp những tấm y vàng ôi đẹp làm sao! Khung cảnh trang nghiêm, giờ phút ấy sao mà thanh thoát tuyệt vời, hình ảnh ấy đã theo con trên lộ trình giải thoát suốt hơn năm mươi năm dài. Tấm hoàng y con mơ ước ngày nào nay đã thành sự thật.
Phước điền trên tấm hoàng y
Chúng sanh gieo hạt từ bi độ đời
Điệp y ngang dọc tuyệt vời
Vá may từng mảnh sống đời thanh cao.
Bài nguyện hương Sư bà dâng hương năm xưa, luôn nằm trong ký ức của con chưa được giải tỏa. Vào một thời thuyết pháp năm nọ, Hòa thượng thượng TỪ hạ THÔNG đã khai mở tâm trí cho con, con nhận thấy chư Phật, chư Tổ đã soạn ra “Ngũ phần chơn hương của Pháp thân” thật là vi diệu.
– Giới hương: Nghĩa là tâm mình không tưởng điều quấy, không sanh ganh ghét, không sanh tham lam, giận hờn, không mong cướp của hại người.
– Định hương: Xem thấy các tướng lành, tướng dữ, mà tâm không động, không tán loạn.
– Huệ hương: Nghĩa là tâm mình không ngăn lấp, thường lấy trí huệ quán chiếu tánh mình, tuy mình có tu các hạnh lành mà không chấp trước.
– Giải thoát hương: Nghĩa là tâm mình không vướng mắc những cảnh vật bên ngoài, trong tâm không nghĩ điều lành, điều dữ, thong dong tự tại.
– Giải thoát tri kiến hương: Tâm mình không bám víu vào cảnh vật nào, mình chẳng nghĩ điều lành, không tưởng việc dữ, nhưng chẳng nên trầm không thủ tịch. Phải học rộng nghe nhiều, phải biết bổn tâm của mình, phải rõ thông đạo lý của Phật thì mới mong thấy tánh. Phải đạt ngay cõi chánh giác, chơn tánh không đổi dời. Chơn hương này, mỗi phần tự có chất xông thơm ở bên trong, đừng tìm kiếm nơi bên ngoài.
Đức Thế Tôn khuyên chúng ta nên trở về tìm lại cái bản giác của chính mình. Trong kinh có câu: “Dùng tánh mình mà độ lấy mình”. Nghĩa là chúng sanh tâm (tức là các tánh xấu) như: tà kiến, phiền não, ngu si nổi lên thì phải dùng Chánh kiến mà hóa độ các tánh xấu ấy. Đã có Chánh kiến thì phải dùng trí Bát Nhã (trí huệ) đánh dẹp các chúng sanh ngu si, mê vọng. Mình phải tự độ lấy mình, tà đến lấy chánh mà độ, mê lại lấy ngộ mà độ, ngu đến lấy trí mà độ, thế mới gọi là thiệt độ.
Diệu giác chơn thường chẳng đổi thay
Trở về bản thể tánh Như Lai
Chơn tâm trong sáng nào vẫn đục
Sóng – nước lưu dòng thể chẳng hai.
TKN. Phước Giác (ĐSHĐ-130)


















































