Tóm tắt: Hơn hai ngàn năm lịch sử, Ni giới Việt Nam có nhiều bước tiến trên phương diện tu học và hành đạo. Chặng đường phát triển đó không chỉ xoay quanh những đóng góp cho đoàn thể Ni giới, Phật giáo địa phương mà còn gắn liền với mục đích giao lưu và góp phần làm lớn mạnh chiếc nôi Phật giáo Quốc tế. Trong đó, châu Á chính là điểm hẹn đầy tiềm năng cho con đường hội nhập, giao lưu, học hỏi của chư Ni đất Việt. Dưới mạng lưới của Phật giáo cùng khu vực, Ni giới sẽ được tìm hiểu, khai triển trong 4 vấn đề:
1. Ni giới Việt Nam qua những định vị mới trên bản đồ Phật giáo Á châu.
2. Con đường giao lưu của Ni giới Việt Nam – nhìn từ bối cảnh Đông phương Phật giáo.
3. Hồn Việt, bản sắc đạo Phật Việt được chư Ni đưa ra ngoại quốc.
4. Cơ hội, thách thức và giải pháp cho chư Ni Việt trước sự hội nhập Phật giáo cùng khu vực.
I. Dẫn nhập
Trong những chiếc nôi văn minh, tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới, châu Á được biết đến là nơi khởi nguồn của nhiều tôn giáo quan trọng, có sức ảnh hưởng sâu rộng toàn cầu. Mảnh đất linh thiêng này từng khai sinh ra Phật giáo và cũng là châu lục có sự phát triển rực rỡ nhất của đạo Phật. Từ Ấn Độ đến Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Việt Nam và khắp các quốc gia Đông Nam Á, Phật giáo đã không ngừng biến đổi, dung hòa với từng nền văn hóa và tạo nên một dòng chảy tâm linh mãnh liệt. Trong hành trình ấy, Ni giới đã góp phần không nhỏ trong việc duy trì, truyền bá giáo pháp, cũng như thúc đẩy sự giao lưu Phật giáo khu vực. Với truyền thống lâu đời và bản sắc riêng biệt, chư Ni Việt Nam không ngừng vươn mình mạnh mẽ, giao lưu cùng Ni giới các nước và có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của Phật giáo nội địa và Phật giáo Đông phương. Có thể nói, Ni giới Việt Nam đặt chân đến đâu đều mang theo tinh thần, bản sắc Việt, Phật giáo Việt đến đó. Chính vì thế, đề tài “Ni giới Việt Nam trong mạng lưới Phật giáo Á châu: bản sắc và sứ mệnh” cũng không nằm ngoài mục đích tôn vinh những đóng góp, những dấu ấn, sắc thái đặc thù của cộng đồng nữ tu sĩ Việt trong quá trình giao lưu, phát triển Phật giáo trên đất nước bạn. Bài viết hy vọng sẽ góp phần khơi dậy sự hòa quyện giữa truyền thống và đổi mới của Ni giới Việt Nam trong dòng chảy giao lưu, phát triển Phật giáo Á châu. Đồng thời, khẳng định vai trò, giá trị cao đẹp và sức sống bền bỉ của Ni giới Việt Nam trên bản đồ Phật giáo quốc tế.
II. Nội dung
1. Ni giới Việt Nam qua những định vị mới trên bản đồ Phật giáo Á châu
Không chỉ giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển Phật giáo quốc nội, chư Ni Việt Nam từ lâu đã có những bước định hình mới trên bản đồ thế giới nói chung và bản đồ châu Á nói riêng. Vào hậu bán thế kỷ XX, khi làn sóng chấn hưng dần đi vào ổn định và hòa bình đã thiết lập trở lại trên quê hương, khá nhiều chư Ni đã đặt chân đến học tập, hành đạo tại các lãnh thổ thuộc Đông phương Phật giáo. Từ chiếc nôi sản sinh ra đạo Phật, Ni giới đã bắt đầu tiếp cận với các vương quốc Phật giáo láng giềng. Qua sự nối dài của 49 đơn vị lãnh thổ; bao gồm 5 khu vực lớn như Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á, Trung Á, Tây Á; Phật giáo đã hiện diện trong gần 20 quốc gia. Trong số đó, cộng đồng Phật giáo Việt Nam đã cộng cư hơn 10 lãnh thổ. Men theo lý tưởng học tập, phụng sự của cá nhân cũng như nương tựa bước chân hành đạo của chư Tăng, Ni giới Việt Nam đã đến gầy dựng, tiếp quản đạo tràng tại 5 quốc gia.
Ngoại trừ Trung Á và Tây Á, phần lớn Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tập trung tại các vùng lãnh thổ thuộc Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á. Trong đó, Đông Á là khu vực có số lượng tự viện, đạo tràng Việt Nam đứng sau Đông Nam Á nhưng số lượng chư Ni dấn thân hành đạo, lập tự nhiều nhất. Hiện nay, tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đã có gần 10 Ni tự chính thức thành lập, dưới sự đảm nhiệm Trụ trì của chư Ni như chùa Đại Ân, chùa Việt Nam, chùa Nam Hòa, chùa Phước Huệ (Nhật Bản); Trung tâm Văn hóa PGVN, chùa Hải Nguyện, Đạo tràng Đạo Phật ngày nay (Hàn Quốc) và chùa Lạc Việt, chùa Việt Đài, chùa Việt Nam (Đài Loan). Hòa cùng dòng truyền thừa lớn mạnh của Phật giáo Đại thừa, tinh thần nhập thế của chư Ni Việt Nam tại những vùng đất này được thể hiện, ứng dụng rất rõ. Nhất là trong sự giao lưu giữa Ni giới các nước. Năm 2015, đoàn Ni giới thuộc phái Tào Khê từ Hàn Quốc, do Ni trưởng (NT.) Myoung Shoeng dẫn đầu đã đến Việt Nam và có cuộc giao lưu cùng Phân ban Ni giới Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam1. Năm 2023, đoàn Ni giới Việt Nam đã đến thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, dự lễ cầu an và cầu nguyện hòa bình thế giới tại chùa Phụng Ân, Seoul, với sự tham gia của hơn 100 chư Ni từ Việt Nam2. Những cuộc gặp gỡ này đã thắt chặt, tăng cường hiểu biết và chia sẻ kinh nghiệm tu tập giữa chư Ni hai nước.
NI TỰ VIỆT NAM TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á
| STT | QUỐC GIA | CHÙA DO CHƯ NI SÁNG LẬP, QUẢN LÝ |
| 1 | Nhật Bản | – Chùa Đại Ân với 2 cơ sở tại tỉnh Saitama (2017) và tỉnh Tochigi (2020), do NS. TN. Tâm Trí (Hội trưởng hội Phật tử Việt Nam tại Nhật Bản) trụ trì. – Chùa Nam Hòa, xây từ 1/1/2006, do NS. TN. Thông Thắng trụ trì. – Chùa Việt Nam do ĐĐ. Thích Nhuận Ân và SC. TN. Giới Bảo tiếp nhận quản lý và điều hành năm 2018. – Chùa Phước Huệ lập năm 2013, do SC. TN. Như Tâm (Hội phó hội Phật tử Việt Nam tại Nhật Bản) trụ trì. |
| 2 | Hàn Quốc |
Chùa Pháp Môn – ngôi chùa Việt đầu tiên tại Hàn Quốc, xây năm 2014, do NS. TN. Giới Tánh (Chủ tịch Hội Phật tử VN tại Hàn Quốc, Giám đốc Trung tâm văn hóa Phật giáo Việt Nam tại Hàn Quốc) trụ trì.
– Đạo tràng Đạo Phật Ngày Nay tại Hàn Quốc tại thành phố Paju, do SC. TN. Giác Lệ Hiếu trụ trì.
– Chùa Hải Nguyện, tỉnh Gyeongsang, do SC. TN. Chơn Phương trụ trì năm 2023.
|
| 3 | Đài Loan | Chùa Việt Nam, Đào Viên – Đài Loan, ngôi chùa VN đầu tiên tại Đài Loan, do NS. TN. Tâm Thanh, NS. TN. Thuần Tịnh trụ trì. |
| 4 | Lào |
Chùa Diệu Giác – ngôi chùa Ni đầu tiên của người Việt tại Trung Lào, do SC. TN. Hương Phước làm Phó trụ trì.
– Chùa Bàng Long – một trong những ngôi chùa lớn nhất của người Việt, xây năm 1942. Năm 1989, chùa được HT. Trung Quán giao chùa cho hai sư Ni trông coi. Sau này, HT. Thích Thọ Lạc trụ trì.
|
| 5 | Ấn Độ |
Chùa Linh Sơn do NS. TN. Trí Thuận trụ trì.
– Chùa Kiều Đàm Di tại Vaishali, do NT. TN. Khiết Minh sáng lập 2004.
|
Tại Đông Nam Á – chiếc nôi bền bỉ của Phật giáo Nguyên Thủy cũng có gần 40 ngôi bảo tự của cộng đồng người Việt (Thái Lan: 21, Campuchia: 1, Lào: 15, Myanmar: 1), thế nhưng, Ni giới Việt Nam dấn thân lập tự rất ít. Vì Ni đoàn Nguyên thủy tại các nước này không thể khôi phục (trừ Ni giới Thái Lan đã được thọ Cụ túc3), nên chư Ni phần đông nương theo đại Tăng thọ tám giới tu học. Trong khi, Ni giới Việt Nam qua tiến trình 2000 năm lịch sử du nhập, truyền thừa và phát triển được sự ủng hộ lớn của Tăng đoàn về cả phương diện tu tập lẫn tổ chức hoạt động4. Mặt khác, phần lớn tu học theo truyền thống Phật giáo Đại thừa nên bộ phận Ni giới ngày một lớn mạnh, kiện toàn cả về hình thức lẫn nội dung (trừ Ni đoàn Nam tông Kinh còn chờ đợi sự thừa nhận của Tăng đoàn Nguyên Thủy). Đây là đoàn thể có điều kiện tu học thuận lợi nhất trong khu vực Đông Nam Á. Điều này đã tạo nên thế mạnh riêng cho chư Ni khi hành đạo tại quốc nội cũng như lập tự tại các đất nước có nền Phật giáo Bắc truyền. Dầu vậy, đoàn thể Ni giới Việt Nam đang là một câu hỏi lớn cho vấn đề khôi phục Ni đoàn của một số nước trên thế giới, nhất là các quốc gia có nền tảng Phật giáo Nguyên Thủy5.
Chính vì vậy, tại Đông Nam Á chỉ có Lào là nơi lưu dấu bước chân quản tự của chư Ni Việt Nam. Trong 15 ngôi tự viện Việt Nam tại xứ sở triệu Voi, có 2 ngôi chùa được chư Ni trông coi, tiếp quản. Thứ nhất, chùa Diệu Giác – ngôi chùa Ni đầu tiên của người Việt tại Trung Lào (có 3 ngôi do người Việt xây dựng), được tôn tạo từ những năm 1930 và đại trùng tu vào các năm 1997, 2023, thuộc tỉnh Savannakhet. Ngôi chùa gần trăm tuổi, là nơi tu học của Phật tử Việt – Lào và nhiều thế hệ Ni chúng người Việt. Hiện nay, chùa Diệu Giác được sự quản lý của SC. TN. Hương Phước – Phó Trụ trì. Thứ 2, chùa Bàng Long ở Thủ đô Viên Chăn – một trong những ngôi chùa lớn nhất của người Việt Nam tại Lào, được xây dựng năm 1942 – 1945. Ngôi chùa từng được HT. Thích Trung Quán giao cho 2 sư Ni trông coi từ 1978 cho đến khi TT. Thích Thọ Lạc Trụ trì năm 2014. Dù không rõ phương danh nhưng đây là hai vị sớm nhất đi nhận chùa ở xứ bạn. Bên cạnh vai trò lập tự, chư Ni Việt Nam đến cộng cư tu học, du học tại Myanmar, Singapor… Đặc biệt tại Thái, 21 chùa Việt /30.000 ngôi chùa Thái và 300.000 tu sĩ Phật giáo nhưng không có chùa do chư Ni đảm nhiệm biệt lập. Số đông, chư Ni du học ở kí túc xá hoặc ở tại làng Mai – cộng đồng tu học lớn của người Việt. Nơi đây quy tụ số lượng lớn chư Ni, không chỉ Việt Nam mà còn cả Quốc tế. Đạo tràng Mai Thôn đã đào tạo ra nhiều thế hệ chư Ni xuất chúng như NS. Linh Nghiêm, NS. Chơn Đệ, NS. Hạnh Liên, NS. Chơn Không… Những vị Ni này không chỉ góp công xây dựng, phát triển đời sống Ni lưu tại làng Mai ở khắp nơi trên thế giới mà còn có những đóng góp cho phong trào chánh niệm và công tác xã hội. Có thể nói, sự phát triển của chư Ni tại những địa điểm này vẫn còn khiêm tốn.
Tương tự Đông Nam Á, tại khu vực Nam Á với những chiếc nôi cổ thụ của Phật giáo Nguyên Thủy, mang nặng dấu ấn khai sinh và bén rễ của đạo Phật như Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka cũng có gần 10 cơ sở tự viện, đạo tràng tu học của người Việt. Tôn quý những giá trị lịch sử lâu đời đó, chư Ni Việt Nam đã chọn đất Phật làm điểm đến đặc biệt quan trọng để gầy dựng đạo tràng tu học, hành đạo nơi xa xứ. Năm 1989, chùa Linh Sơn Việt Nam – Chinese tại Kushinagar, Ấn Độ đã được NS. TN. Trí Thuận tiếp quản. Ngôi bảo tự này vốn là chùa Hoa do Sư bà Chứng Nghiêm sáng lập năm 1945 và được cúng lại cho HT. Huyền Vi năm 1985. Với 30 năm chăm sóc dưới bàn tay của một nữ tu gốc Việt, ngôi chùa đã mang lại nhiều giá trị to lớn không chỉ về giao thoa văn hóa Việt – Hoa – Ấn mà nó còn thực hiện các vai trò giáo dục và các hoạt động xã hội. Nối tiếp sau là NT. TN. Khiết Minh – người sáng lập chùa Kiều Đàm Di tại Vaishali năm 2004. Đây không chỉ là nơi lưu trú của chư Ni Việt Nam mà từng là điểm An cư của chư Ni Quốc tế đến từ các nước Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Tích Lan, Nepal, India,… Cũng tại nơi này, chư Tôn đức Ni thuộc Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam và Tích Lan chọn làm điểm tổ chức Lễ truyền giới Tỳ-kheo-ni và Sa-di-ni cho Ni chúng. Hơn thế, ngày 5-12/01/2013, chùa Kiều Đàm Di được vinh dự chọn làm điểm tổ chức Hội nghị Sakyadhita – Nữ giới Phật giáo Thế giới lần thứ 13 với chủ đề “Phật giáo giữa đời thường” với hơn 50 tham luận của các diễn giả đến từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ6. Sự kiện này đã để lại ấn tượng tốt đẹp sâu đậm cho Phật giáo trong nước và quốc tế. Phải nói rằng, tại khu vực Nam Á, chỉ có Ấn Độ là nơi duy nhất lưu dấu hạnh nguyện tạo tự của chư Ni Việt Nam.
Như vậy, nhìn trên bản đồ châu Á, Ni giới Việt Nam ngoài vai trò, trách nhiệm phụng sự tại quê hương, chư Ni còn dũng cảm dấn thân đến nhiều miền biên giới, xứ sở khác lạ. Với bề dày lịch sử và lực lượng Ni chúng đông đảo, chư Ni Bắc tông dấn thân lập tự nhiều hơn chư Ni Khất sĩ Nam tông. Thông qua những khảo sát sơ lược, số lượng chư Ni, tự viện Ni trên bản đồ châu Á vẫn còn hạn chế nhưng đã đặt ra nhiều tiền đề giao lưu, phát triển mới không chỉ cho Ni giới, Phật giáo Việt Nam mà còn cho cả Ni giới, Phật giáo châu Á. Trong đó, bao gồm cả các phương diện ngoại giao, văn hóa, giáo dục, hoằng pháp, thiện nguyện… ‘Định vị’ của Ni giới Việt theo hướng này cũng chính là thiết lập vị trí, định vị, tôn vinh ‘nữ quyền’ trong bối cảnh hội nhập và phát triển Phật giáo đương đại: giữ vững cội nguồn, vươn xa thế giới.
TN. Như Hạnh (ĐSHĐ-140)
Sc. Huệ Pháp diễn đọc
- H. Diệu, “Phân ban Ni giới TW tiếp đoàn Ni giới Hàn Quốc”, nguồn: https://giacngo.vn/phan-ban-ni-gioi-tu-tiep-doan-ni-gioi-han-quoc-post36720.html?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 31/3/2025.
- Hà Anh, “Phật giáo thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Hàn Quốc”, nguồn: https://ttdn.vn/hoi-nhap-va-phat-trien/the-gioi-viet-nam/phat-giao-thuc-day-moi-quan-he-tot-dep-giua-viet-nam-va-han-quoc-81332, ngày truy cập 31/3/2025
- Bhikkhuni Dhammananda, (2015), “Thọ giới Tỳ kheo Ni tại Thái Lan”, trích trong TKN. Như Nguyệt (biên soạn tiếng Việt), Từ bi và công bằng xã hội, NXB. Tổng hợp TP. HCM, tr.221 – 231.
- NS. Đàm Hân, (2022), “Vai trò của Ni giới Phật giáo với việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại hiện nay”, trích trong HT. TS. Thích Thanh Quyết, NT. Thích Đàm Nghiêm (đồng chủ biên), Nữ Phật tử với Phật giáo Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội Hà Nội, tr890 – 891..
- Thích Tâm Nhãn, “Tỳ-kheo-ni đầu tiên ở Việt Nam – Mãi là ẩn số của lịch sử”, nguồn: https://phatviet.info/ty-kheo-ni-dau-tien-o-viet-nam-mai-la-an-so-cua-lich-su/?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 31/3/2025
- Karma Lekshe Tsomo, (2013), “Lời giới thiệu”, trích trong TKN. Như Nguyệt biên soạn tiếng Việt, Phật giáo giữa đời thường, NXB. Tổng hợp, TP.HCM, tr.13.


















































