..Đôi khi nếp sống của người xuất gia chúng ta sống chạy theo cảnh nhiều mà quên mất mình quên những gì Phật dạy tha thiết trong kinh Di Giáo… Giới Luật có công năng chế ngự thân khẩu và ý, cho nên, giữa thời buổi này PBNG TW tổ chức khóa bồi dưỡng luật như vậy là rất có ý nghĩa… Tôi có lời nhắc nhở hàng Tăng Ni trẻ, thời buổi hiện tại là thời buổi văn minh tiến bộ, vật chất được đặt lên hàng đầu. Văn minh chừng nào đạo đức con người càng xuống dốc chừng đó. Trong khi đó, Giới luật có khả năng hạn chế tất cả những sai lầm của ba nghiệp thân khẩu ý. Giới luật là chiếc áo giáp, vũ khí bén nhọn… khi chúng ta rành luật thì sống đời sống rất nhẹ nhàng.”1
Trong bối cảnh xã hội hiện đại với những hấp dẫn biến đổi nhanh chóng, việc tuân thủ Giới luật trở thành một phần thử thách cho các vị Tăng Ni trẻ. Lời dạy của Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Thông về vai trò của giới luật trong khóa bồi dưỡng luật học đã cung cấp những góc nhìn sâu sắc và thiết thực. Bài viết này sẽ phân tích ý chính trong lời dạy của Hòa thượng, đồng thời đưa ra những suy ngẫm về tầm quan trọng của giới luật trong đời sống tu hành hiện đại.
Theo các ghi chép lịch sử, phải đến năm thứ 13 2sau khi giác ngộ và thành lập Tăng đoàn, Đức Phật mới chính thức thiết lập Giới luật, những quy định cụ thể giúp Tăng đoàn giữ được sự thanh tịnh và hòa hợp. Muốn nếm mùi vị giải thoát phải khép mình vào Giới luật, Vinaya giống như một kho thuốc nhiều vị hỗ trợ nhiều thành phần; ví như 5 vị cho ngũ giới, Bát quan trai 8 vị, Sa di 10 vị, Tỳ kheo 250 vị, Tỳ kheo ni 348 vị mỗi vị có công năng riêng của nó.
Tất nhiên, chúng ta không lạm bàn đến Tỳ kheo Subhadda, người thọ giới vào cuối đời Đức Phật, cảm thấy Thế Tôn nhập diệt là dịp để ăn mừng còn cố gắng thuyết phục các vị đồng phạm hạnh đang đau buồn không nên tỏ ra thống khổ. Để nhấn mạnh, Subhadda chỉ ra rằng Bậc Chánh Đẳng Giác thường đối xử với họ như những đứa trẻ hư, khắc nghiệt và tàn nhẫn. Trên hết, thường khiển trách họ vì thái độ và việc làm không phù hợp Giới luật. Ông nói với họ rằng giờ đây họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn; trong trường hợp này giới luật đã bị coi nhẹ.
Có thể nói mùa xuân khởi đầu cho một năm, thọ đại giới khởi đầu cho đời sống Tỳ kheo chính thức dự phần vào Tăng đoàn. 250 giới hay 348 giới lúc này chi phối mọi hành động phát khởi từ thân khẩu ý vị Bhikhu – Bhikhuni. Vinaya (luật tạng) không đơn thuần tập hợp các quy tắc hành xử mà còn là một hệ thống giáo dục toàn diện, giúp chư Ni rèn trui đạo đức, trí tuệ và kỹ năng sống. Quả thật, soi lối vào hệ thống Kinh – Luật – Luận, tất cả đều phản ánh ý nghĩa và công dụng rộng lớn sâu xa của Vinaya đến đời sống tu tập, sinh hoạt hàng ngày của các vị đệ tử của Đức Phật. Lời dạy của Ngài Tuyên luật sư có ba điểm nhấn: vấn đề mất cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, vai trò quan trọng của Giới luật và Giới luật là “áo giáp”, là “vũ khí bén nhọn”.
Hòa thượng đã đưa ra một thực trạng đáng báo động, nhiều người xuất gia hiện nay quá chú trọng đến những tiện nghi vật chất, quên đi mục tiêu tu tập và những lời dạy của Phật. Điều này dẫn đến sự mất cân bằng cũng như giảm hiệu quả tu tập. Để triệt tiêu vấn đề này, trước tiên cần nắm cơ bản Giới luật Tỳ kheo ni gồm 348 giới điều “Ngũ thiên thất tụ”.
Thất tụ gồm bảy nhóm: 8 pháp Ba la di, 17 pháp Tăng tàn, 30 pháp Xả đọa, 178 tám pháp Đọa, 8 pháp Hối quá, 100 pháp Chúng học, 7 pháp Diệt tránh. Phân loại theo các việc cần phải cấm chỉ không được làm (chỉ trì) hoặc cần phải làm (tác trì) thì có bảy nhóm như trên, gọi là “Bảy tụ”, cũng như những chương, điều được nêu trong bộ luật hình sự ở đời. Những việc Phật cấm chỉ không được làm, nếu làm thì phạm, gọi là “chỉ trì tác phạm” như giới sát, đạo, dâm, vọng, v.v… Những việc Phật dạy phải làm không được bỏ qua, thì gọi là “tác trì chỉ phạm” như các pháp yết ma…
Nhưng phân loại theo tội và mức độ xử phạt thì chỉ có Năm thiên: Thiên 1, tội Ba la di. Khi phạm vào một trong tám pháp ba la di, mức xử phạt là đuổi ra khỏi chùa; Thiên 2, tội Tăng tàn. Khi phạm một trong 17 pháp Tăng tàn, mức xử phạt là sám hối trước hai bộ Đại Tăng và hành sám một thời gian, bằng cách làm các việc do Tăng chỉ định; Thiên 3, tội Ba dật đề. Khi phạm vào hai tụ 3 và 4, mức hành sám ngang nhau, nhưng một bên có vật trình ra trước Tăng để xả (nói theo luật pháp ở đời là “có tang vật cần tịch thu”) rồi sám hối tội đáng đọa lạc, nên gọi là “Xả đọa”. Còn một bên không có tang vật, nhưng có những hậu quả xấu như mang tai tiếng cho đoàn thể hoặc gây thiệt hại cho người khác, gọi là pháp “Đọa”, vì khiến cho người phạm rơi vào những ô nhiễm do tham sân hoặc do đam mê sáu trần cảnh, không đem lại giải thoát; Thiên 4, tội Thâu lan giá. Ví như trong pháp ba la di mà mới phạm có bảy việc hoặc hai ba bốn việc hoặc khi cố ý giết mà đối tượng chưa chết, âm mưu bại lộ, do vậy nên có ba cấp bực Thâu lan giá; Thiên 5, tội Đột cát la, nhẹ nhất nhưng dễ phạm, là khi vi phạm các pháp trong những tụ còn lại (5, 6, 7) gồm hai thứ: “ác tác” (làm bậy) và “ác thuyết” (nói bậy); tựa như loại tội “vi cảnh” trong luật đời3.
Sau khi nắm vững thì đi đến từ bỏ, dẫu trong xã hội hiện đại với nhiều cám dỗ và tiện nghi nhiều biến động, việc tuân thủ Năm Thiên và Bảy Tụ là một thử thách. Tuy nhiên, việc từ bỏ các cám dỗ giúp chư Ni không bị vướng bận vào những dục vọng vật chất, tập trung toàn tâm toàn ý vào việc tu tập tránh xa những đối tượng và hoàn cảnh có thể làm xao động tâm, giữ gìn được sự thanh tịnh, ngăn chặn những nguyên nhân phát sinh phiền não; rèn luyện tính không tham, không sân, không si, bảo vệ được giới luật, bản thân góp phần nâng cao uy tín Tăng đoàn.
Đôi dòng suy ngẫm về tầm quan trọng của giới luật trong xã hội vật chất đã phát triển đến mức gọi là hiện đại: Bất kỳ tôn giáo lớn nào cũng có hệ thống triết học vững chắc; Phật giáo cũng thế, Kinh-Luật-Luận là triết học, là bản sắc, là kiềng ba chân. Muốn giữ gìn bản sắc Phật giáo, phải hiểu Giới luật là một phần không thể thiếu. Việc tuân thủ giới luật giúp bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống Phật giáo, đây là trách nhiệm mà mỗi hành giả cần nhận thức minh bạch, rõ ràng để chung vai gánh vác.
Kế đến, rèn giũa đạo đức: Giới luật giúp chư Ni rèn luyện những đức tính tốt đẹp như từ bi, hỷ xả, nhẫn nhục. Điều này không chỉ có lợi cho bản thân mà còn có lợi cho xã hội, tha nhân; làm sống lại tình người với người như xưa hay gọi là tình làng nghĩa xóm.
Tạo dựng hình ảnh tốt đẹp cho Tăng đoàn: Khi một vị Ni tuân thủ giới luật, sẽ trang nghiêm tự thân trở thành tấm gương trong cho Phật tử và xã hội nhìn vào noi theo, góp phần đưa hình ảnh Tăng đoàn trở nên tốt đẹp trong từng phân tầng xã hội.
Đáp ứng yêu cầu của thời đại: Trong xã hội hiện đại, với nhiều vấn đề phức tạp phát sinh liên tục, nhất là tình hình Phật giáo Việt Nam trong ba tháng mùa Hạ (2024) vừa qua bị đánh phá toàn diện trên tất cả mặt trận truyền thông, báo chí. Việc giữ tròn Giới luật giúp chư Ni vững chãi nhìn nhận thấy cốt lõi vấn đề, biết đâu là việc nên làm và không nên làm, đầy đủ khả năng thích ứng và vượt qua thế khó khăn mà vẫn vẹn bền chí cả.
Tóm lại, lời dạy của Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Thông đã khẳng định tầm quan trọng Giới luật trong đời sống tu hành. Để thành công bước đến chân trời cao rộng, ắt hẳn cần phải không ngừng học hỏi và tuân thủ giới luật. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ chư Tôn đức PBNG TW cũng đã góp phần tăng cường công tác giáo dục về Giới luật, giúp chư Ni hiểu rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của giới luật để ngày càng vững vàng hơn.
Phương Dung (ĐSHĐ-133)
- Trích lời dạy của Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Thông tại khóa thứ 2 “Lớp bồi dưỡng luật học” của Ni giới TW tổ chức tại Ni viện Thiện Hòa ngày 21/09/2024.
- Thích Thiện Siêu (2002), Cương Yếu Giới Luật, NXB Tôn Giáo, Tr. 22.
- Thích Nữ Trí Hải (2003), Sự tích giới luật, phần dẫn nhập, NXB Tôn Giáo.


















































