I. Sự hình thành khu Làng chùa Đại Ninh
Từ những năm của thập niên 1960, cái tên thân thuộc mà người dân thường quen gọi “Làng chùa Đại Ninh” để chỉ cho một vùng đất dọc theo hai bên bờ đầu nguồn dòng sông Đại Ninh, nơi tập trung nhiều chùa, tháp, tịnh xá, tịnh thất… Với mật độ người xuất gia gấp đôi người dân thường. Nơi này đầu tiên chỉ là thôn Phú An, nhưng giờ đây mở rộng hơn, bao gồm một số thôn như: Phú An, Phú Bình, Ninh Thiện, Thiện Chí, Đại Ninh cùng thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Đây là cái nôi của Phật Giáo Việt Nam không chỉ ở huyện Đức Trọng và tỉnh Lâm Đồng mà còn được cả nước biết đến. Nơi đây, mặc dù không có nhiều ngôi chùa đồ sộ, nguy nga, lộng lẫy, chỉ vỏn vẹn khoảng hai chục ngôi già lam, cổ tự với gần hai trăm nóc tịnh thất đơn sơ, nhưng là nơi quy tụ của ngót một ngàn chư Tăng, Ni đủ các hệ và tông phái. Tuy thế, pháp môn Tịnh độ, kết hợp thiền và mật tông vẫn được xem nổi trội ở vùng này.
“Làng chùa Đại Ninh” dù cách quốc lộ 20 khoảng một cây số nhưng luôn có không gian tĩnh lặng, cảnh trí yên bình, khí hậu mát mẻ. Chỉ từ lúc canh ba rạng sáng, khi trời còn tối mịt, chim muông còn say ngủ, hoặc lúc hoàng hôn, khi mặt trời vừa tắt nắng, sự yên tĩnh mới được khuấy động với tiếng chuông chùa thong thả điểm ngân nga khắp vùng, xen lẫn những hồi mõ trầm hùng khi to, khi nhỏ, lúc nhặt, lúc khoan, hòa cùng tiếng tụng kinh đạo vị từ đầu làng đến cuối xóm. Dù số lượng Tăng Ni sinh sống nơi đây rất đông, chư Tôn đức vẫn hàng ngày thầm lặng, yên tĩnh công phu, bái sám, hành thiền, niệm Phật, trì chú, tụng kinh trong khu “làng chùa” tĩnh mịch, thấp thoáng mới thấy xuất hiện vài ba bóng dáng những chiếc áo nâu, lam hay vàng của các vị trên con đường thôn vắng lặng. Ngược lại, trong những ngày sóc vọng, ngày Bố Tát hay dịp đại lễ Phật giáo, các con đường thôn đầy ắp người xuất gia cũng như Phật tử hướng về các ngôi Tịnh viện Tổ đình ở trung tâm làng chùa.
Không ít người vẫn thắc mắc tại sao có khu “làng chùa” này, hoặc ai là người kiến tạo, lập thành “làng chùa” đây?
Vào thập niên 1930-1940, sau phong trào Chấn hưng Phật giáo lan rộng cả nước, rồi khi Hội An Nam Phật Học Trung Việt lần lượt được thành lập tại Đồng Nai Thượng (Lâm Đồng hiện nay) và quốc lộ 20 hoàn thành, khai thông từ Biên Hòa đến Đà Lạt, nhiều chi hội Phật giáo khắp nơi trong tỉnh nhà được thành lập và hoạt động sôi nổi, nhất là khi chùa Linh Sơn, ngôi chùa của Tỉnh hội được xây cất hoàn thiện (1940). Tuy nhiên, từ giữa năm 1940, do hậu quả của chiến tranh Đông Dương trong Đại thế chiến thế giới thứ II, nước ta bị Pháp và Nhật giành quyền kiểm soát kinh tế, rồi Nhật chiếm đóng và buộc dân ta nhổ lúa trồng cây công nghiệp, thêm vào đó tình trạng hạn hán, mất mùa xảy ra khiến cho khoảng hai triệu người dân miền Bắc phải chết đói từ mùa đông năm 1944 đến mùa xuân năm 1945. Nạn áp bức, đói kém khiến người dân phẫn nộ, căm tức thực dân nên rất nhiều người, trong đó có nhiều Tăng sĩ bỏ chùa tham gia phong trào Việt Minh, kháng chiến chống Pháp và Nhật trong cuộc Cách mạng tháng Tám lịch sử. Thời gian này và sau cuộc kháng chiến đến khoảng thập niên 1950, nhiều tổ chức Phật giáo cứu quốc được thành lập, nhiều giáo phái hình thành và hoạt động như: Phật giáo Hòa Hảo (1939), Phật giáo Khất sĩ (1944), Tổ chức Sơn Môn Tăng Già (1951), Nam Việt Giáo Hội Lục Hòa Tăng hoặc Phật giáo Cổ Sơn Môn (1952)…Tiếp đó, khi Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa năm 1955 sau khi thành công trong việc phế truất Bảo Đại, đất nước hỗn loạn bởi các giáo phái và các hoạt động bí mật của Việt Minh tại miền Nam. Từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956, Ngô Đình Diệm phát động “chiến dịch tố cộng” giai đoạn 1 trên quy mô toàn miền Nam; từ tháng 6 -1956, ông tiếp tục mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh. Chính việc bắt giam, xử tử và đàn áp Phật giáo tiếp diễn sau đó đã làm biến dạng mô hình xã hội, khiến dân chúng phản đối chính phủ Ngô Đình Diệm và đẩy một số Tăng, Ni vốn có nguyện vọng yên ổn tịnh tu rời phố thị, tìm kiếm những vùng núi rừng yên tịnh ẩn tu.
Đó là nguyên do khu đất làng chùa này đã lọt vào tầm ngắm của một vài vị Tăng du phương vào những năm cuối thập niên 1950. Hòa thượng Thích Giác Tràng lúc ấy còn rất trẻ, là một trong số ba Tăng sĩ (Giác Tràng, Giác Đạt, Giác Thâu) đến đây kiến lập tịnh xá Ngọc Thành sớm nhất (1959-1960). Tiếp đó, cố Ni sư Huệ Thuận xuất thân từ chùa Sư nữ Linh Phong là vị ni đầu tiên mạnh dạn đến đây sang đất lập tịnh thất Như Ý (1960) và cố Ni sư Huệ Hòa khai lập Tịnh thất Thiên Sơn (1966) tịnh tu. Thời gian sau đó, khi đất nước chiến tranh, ly loạn và đặc biệt khoảng cuối năm 1967, dịp trước tết Mậu Thân năm 1968, vùng đất này đã được nhiều người biết đến như chốn thanh bình, thích hợp việc thanh tu. Khi người bạn tu của Ni sư Huệ Thuận là Ni sư Diệu Nhật từ chùa Diệu Ấn – Phan Rang đến thăm tịnh thất Như ý, Ni sư Diệu Nhật đã vô cùng thích ý và ao ước muốn tịnh cư tại trụ xứ này. Từ nhân duyên giúp đỡ Ni sư Diệu Nhật hoàn thành ước nguyện, người thân của Ni sư đã đặt chân trên vùng đất này, rồi không những hai đấng sinh thành của Ni sư Diệu Nhật là Phật tử Minh Thiện và Chơn Tâm, tán thành việc mua đất cho con cất thất tịnh tu, ông bà còn thỉnh mời quý Hòa thượng, Thượng tọa tại Viện Trung Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Sài Gòn đến tham quan vùng Đại Ninh và thành tâm mua 5 ha đất, trong đó 3 ha hiến cúng Cố Đại lão Hòa thượng Thiền Tâm, Hòa thượng Bửu Huệ và Hòa thượng Bửu Lai làm Tịnh Viện Hương Nghiêm, 2000m2 cúng dường cho cố Hòa thượng Tâm Thanh làm Vĩnh Minh Tự Viện, hiến 1.000m2 đất cho Hòa thượng Minh Bá làm Tịnh thất Thanh Lương, cúng cho Hòa thượng Giác Minh, Hòa thượng Tâm Mãn… Mỗi vị 1.000m2 làm tịnh thất tu hành. Ông bà tín chủ đã nghĩ rất xa nên còn dành cúng dường cả khu đất rộng làm An dưỡng địa cho chư Tăng Ni tu tập ở nơi này.
Khi vùng đất hoang vu tĩnh lặng được chư vị tôn túc đạo hạnh trưởng thượng về cất chùa, thất chuyên tu và hoằng pháp, đạo lực của các vị như trận cuồng phong, như thỏi nam châm khổng lồ, cuốn hút các pháp tử, học trò và chư tôn đức Tăng Ni có cùng khát vọng ẩn tu trên mọi miền đất nước dần hội tụ về đây ngày một đông đúc. Một số chư Tăng đã đến cất thất tu hành, mở đường cho nhiều vị Ni yên tâm tiếp nối, nhất là sau khi có sự hiện diện của Ni trưởng Hải Triều Âm tại thôn Phú An (1968) – theo lời gợi ý của Đại lão Hòa thượng Thiền Tâm – số lượng chư Ni qui tụ về đây tu tập gia tăng nhanh chóng như: Ni trưởng Hải Tuệ, Ni trưởng Như Minh, cố Ni trưởng Diệu Hiền, cố Ni trưởng Như Lý, cố Ni sư Huệ Hòa, cố Ni trưởng Như Thể, cố Ni trưởng Như Cảnh, Ni cô Diệu Lai, Ni cô Diệu Tánh, Ni cô Huệ Chi… Cuối thập niên 1990, lượng chư Ni đã hơn trăm vị, không đủ chỗ ngồi khi Bố Tát tại Tổ đình Hương Nghiêm. Do đó, một khu đất của chính nữ Phật tử Chơn Tâm cũng được cúng dường cho Ni chúng để Ni trưởng Huệ Đức xây dựng Đạo tràng Long Châu làm nơi cho chư Ni không những trong “làng chùa”, mà còn trong cả huyện Đức Trọng đến Bố Tát, sinh hoạt tu tập mỗi nửa tháng và mỗi mùa an cư kiết hạ hàng năm.
Như thế, có thể nói tấm chân thành hộ trì Phật pháp với công đức cúng dường đất của ông bà Phật tử Minh Thiện, Phật tử Chơn Tâm được xem như những viên đá kiên cố đầu tiên xây dựng nền móng của vùng địa linh với cái tên thân thuộc “Làng chùa Đại Ninh” ngày nay.
II. Sơ lược thân thế và đạo nghiệp của Tỳ kheo ni Thích Nữ Chơn Tâm
Tỳ kheo ni Thích Nữ Chơn Tâm thế danh Lê Thị Phụng, sinh năm Canh Tý (1890) trong gia đình trung lưu tại Bến Tre. Thân phụ là cụ ông Lê Di Vân, vốn là người Việt gốc Hoa nên rất giỏi việc mua bán. Thân mẫu là cụ bà Dư Thị Liễu. Cả hai có được 9 người con, Tỳ kheo ni Chơn Tâm là con thứ hai, nhưng là trưởng nữ của ông bà.
Lúc trẻ, tín nữ Chơn Tâm là một thiếu nữ xinh xắn, giỏi giang. Ngoài việc học hành, Tín nữ còn thừa hưởng di truyền của cha, rất đảm đang giúp đỡ hai đấng sinh thành trong việc buôn bán. Lớn lên, khi lập gia đình, Tín nữ và người bạn đời cũng chọn kinh doanh làm ngành nghề chính của gia đình. Cả hai sinh được 9 người con gồm 3 nam, 6 nữ.
Cuộc sống gia đình tuy bận rộn việc thương mại nhưng đời sống dư dật, thoải mái. Cả hai thường giúp đỡ những người khốn khó, góp phần vào công tác từ thiện địa phương hoặc phát tâm hỉ cúng chùa. Vào khoảng năm 1961-1962, cả hai có duyên lành, được cung tiếp và phụng dưỡng cố Đại lão Hòa thượng Thiền Tâm khi ngài nhập thất tịnh tu ở Vang Quới, Bến Tre. Nhờ đó, căn lành cả hai tăng trưởng, tín tâm kiên cố và lòng nhiệt thành hộ trì Phật pháp của các thành viên trong gia đình phát triển mạnh mẽ. Cả gia đình quy y Tam Bảo. Chủ nhà được Hòa thượng cho pháp danh Minh Thiện. Sau đó, người con gái của cả hai phát tâm xuất gia, đó chính là cố Ni Sư Diệu Nhật như đã đề cập phần trên.
Sau pháp nạn năm 1963, Cố Đại lão Hòa Thượng Thiền Tâm được Giáo Hội điều về đảm nhận vai trò Giáo thọ tại Phật học viện Huệ Nghiêm, Sài Gòn. Do thâm giao từ trước, nên thỉnh thoảng, các đệ tử tục gia Minh Thiện, Chơn Tâm vẫn tới lui thăm viếng và hộ trì Đại lão Hòa thượng. Đến năm 1967-1968, chiến tranh loạn lạc, chết chóc khắp nơi tại Bến Tre, cả gia đình Phật tử Minh Thiện, Chơn Tâm phải về Sài Gòn lánh nạn. Đây cũng là cơ duyên giúp cả hai, nhất là Phật tử Chơn Tâm có thời gian thường xuyên đi chùa, học Phật pháp, thấy, hiểu rõ về vô thường, khổ không…
Năm 1967, khi đến Đại Ninh cùng một vị Thầy địa lý (cụ Diễn), nghe Cụ nói vùng đất này tốt cho đạo nghiệp các vị tu hành, cả hai Phật tử Minh Thiện, Chơn Tâm sau khi giúp con gái lúc ấy là Sư cô Diệu Nhật mua đất cất thất tịnh tu, họ về lại Sài Gòn, đến Học Viện Phật giáo Huệ Nghiêm, thỉnh mời Đại lão Hòa thượng Thiền Tâm, Hòa thượng Bửu Huệ, Hòa thượng Bửu Lai và một số Thượng tọa khác cùng lên Đại Ninh. Cả hai hoan hỉ phát tâm mua cả 5 ha đất cúng dường chư Tôn đức có chỗ tịnh tu, nhờ nhân duyên đó, làng chùa Đại Ninh hình thành.
Năm 1969, thấy con cái đã trưởng thành, cơ duyên Phật pháp chín muồi, nữ Phật tử Chơn Tâm giao phó mọi việc gia đình cho Phật tử Minh Thiện để xin phép xuất gia với Hòa thượng Phó Tăng Thống Thích Thiện Hòa. Từ đó, Tỳ kheo ni (TKN) Chơn Tâm chuyên tâm tu tập cho đến mãn đời.
Sự tín tâm và nhiệt thành của TKN. Chơn Tâm còn truyền sang hậu thế, người con gái cả của Sư cũng theo hạnh mẹ, phát tâm xuất gia, thọ Tỳ kheo ni giới với pháp tự Diệu Thanh. Và rồi cô con gái duy nhất của TKN. Diệu Thanh, người thừa hưởng niềm tin kiên cố và nhiệt huyết hộ đạo của bà ngoại và mẹ, cũng phát tâm xuất gia, hiệu Quảng Huệ. Chính TKN. Diệu Thanh và Sư cô Quảng Huệ – là người ở trên một phần đất của TKN. Chơn Tâm mua – đã hiến cúng phần đất này cho Ni chúng xây dựng Đạo tràng Long Châu làm nơi Bố Tát, an cư của Ni chúng làng chùa và cả huyện Đức Trọng.
Ngày 18.02.Tân Dậu (1981), thuận thế vô thường, TKN. Chơn Tâm đã xả báo an tường, viên tịch tại TP. Hồ Chí Minh. Linh cốt của Sư được nhập tháp tại Học Viện Huệ Nghiêm.
III. Kết luận
Năm nay, nhân dịp Phân ban Ni Giới tỉnh Lâm Đồng đăng cai tổ chức Đại lễ tưởng niệm Đức Thánh Tổ Kiều Dàm Di và chư Tôn Đức Ni tiền bối hữu công Phật giáo Việt Nam, chúng con, những kẻ hậu học đang thừa hưởng công đức và di sản để lại của các bậc tiền bối, thành tâm ghi lại những dòng văn này như hình thức bày tỏ tận đáy lòng niềm tri ân sâu xa, như những nén tâm hương dâng lên tưởng niệm thâm ân của chư vị tiền bối hữu công đã góp phần lớn lao trong việc kiến tạo “Làng chùa Đại Ninh”, góp phần không nhỏ trong sự hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam tỉnh Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung.
Chúng con nguyện cố gắng nỗ lực tu học, tinh tấn trau dồi Giới, Định, Tuệ để có thể “Truyền trì chánh pháp, thừa hành Phật sự” của Chư Tôn Đức Tiền Bối Hữu Công đã dày gian khổ tạo lập và xây dựng, để “Làng chùa Đại Ninh” vẫn mãi là cái nôi Phật giáo của nước nhà.
NS Huệ Khánh


















































