Hoàng đế – thi nhân – Điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308)

Trong văn học Việt Nam thời trung đại, có nhiều vị hoàng đế đã để lại nhiều trước tác, trước thuật, trong đó có thơ ca, từ đó hình thành một kiểu tác gia: tác gia hoàng đế – thi nhân. Xin được liệt kê ra đây những tác gia hoàng đế qua các triều đại lịch sử ở nước ta: Nhà Lý (1009-1225) có: Lý Công Uẩn (Thái Tổ), Lý Phật Mã (Thái Tông), Lý Nhật Tông (Thánh Tông), Lý Càn Đức (Nhân Tông), Lý Thiên Tộ (Anh Tông), Lý Long Trát (Cao Tông). Nhà Trần (1225-1400) có: Trần Cảnh (Thái Tông), Trần Hoảng (Thánh Tông), Trần Khâm (Nhân Tông), Trần Thuyên (Anh Tông), Trần Mạnh (Minh Tông), Trần Phủ (Nghệ Tông), Trần Hạo (Dụ Tông), Trần Kính (Duệ Tông). Nhà Hồ (1400-1407) có Hồ Quý Ly. Nhà Hậu Trần (1407-1413) có Trần Quý Khoáng (Trùng Quang đế). Nhà Lê sơ (1428-1527) có: Lê Lợi (Thái Tổ), Lê Nguyên Long (Thái Tông), Lê Tư Thành (Thánh Tông), Lê Tăng (Hiến Tông). Nhà Mạc (1527-1677) và nhà Lê Trung Hưng (1433-1788) không thấy có vị vua nào có sáng tác để lại. Chúa Trịnh (1545-1788) có: Trịnh Căn, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm. Chúa Nguyễn (1558-1771) có Nguyễn Phúc Chu. Nhà Nguyễn (1802-1945) có: Nguyễn Phúc Miên Tông (Thiệu Trị), Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (Tự Đức).
Trong số các tác gia hoàng đế vừa nêu, về thơ, nổi bật nhất phải kể đến những tên tuổi lớn như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Lê Thánh Tông, Trịnh Căn, Trịnh Doanh, Thiệu Trị, Tự Đức. Trong đó, có hai vị hoàng đế sáng giá nhất là Nhân Tông đời Trần và Thánh Tông đời Lê. Ở đây chúng tôi chọn Trần Nhân Tông là vị hoàng đế thi nhân tiêu biểu để giới thiệu, bởi nhiều lý do: Trần Nhân Tông không chỉ là vị minh quân mà còn là nhà quân sự lỗi lạc, nhà ngoại giao tài tình. Ngài còn là nhà văn hóa, nhà tư tưởng uyên thâm, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một Thiền phái mang đậm bản sắc văn hóa Việt, được tôn vinh là Biến Chiếu Tôn Phật, là Phật Hoàng. Đồng thời, Ngài còn là một nhà văn, nhà thơ tinh tế và tài hoa. Tên tuổi và tư tưởng của Ngài tỏa sáng nên gần đây, nơi phương trời Tây, Trường Đại học Harward ở Hoa Kỳ đã chọn Ngài để vinh danh một giải thưởng khoa học: Giải thưởng Trần Nhân Tông.

1. Vài nét về hành trạng, sự nghiệp

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm (1258-1308), con trưởng của Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), lên ngôi trị vì năm Kỷ Mão (1279) và nhường ngôi làm Thượng hoàng vào năm Quý Tỵ (1293), là vị vua thứ ba của vương triều nhà Trần. Trong 15 năm ở ngôi, Nhân Tông là một vị minh quân luôn chăm lo cho muôn dân, nhờ thế nhân dân được sống trong cảnh ấm no, hạnh phúc của một đời sống phong túc và thoải mái dễ chịu, rộng mở và dân chủ. Ngài còn là một vị anh hùng dân tộc, biết tạo khối đoàn kết của toàn quân dân để làm nên sức mạnh tổng hợp qua hội nghị Bình Than (1282) và Hội nghị Diên Hồng (1284), để sau đó Ngài cùng vua cha là Thượng hoàng Trần Thánh Tông, hai lần trực tiếp lãnh đạo nhân dân đánh tan tác đế quốc Nguyên Mông hùng hậu nhất thế giới lúc bấy giờ vào các năm 1285 và 1288. Những chiến thắng oai hùng đó không chỉ nâng vị thế của nước Đại Việt lên tầm cao mới trong khu vực mà còn góp phần giải phóng các nước Đông Nam Á thoát khỏi ách xâm lược của đế quốc Nguyên Mông hồi cuối thế kỷ XIII.

Ngài còn là một nhà tư tưởng, một vị giáo chủ, một Đức Phật sống của đời Trần. Cũng như ông Nội của mình, trước đây khi còn ở ngôi, Nhân Tông vừa trị nước an dân, vừa tu Thiền thì năm 1293, sau khi nhường ngôi, Ngài càng có nhiều điều kiện để chuyên tâm nghiên cứu Phật điển, tu tập Thiền định và giáo hóa muôn dân, khuyên nhân dân xóa bỏ các dâm từ mê tín dị đoan, thực hành thập thiện. Năm 1298, nhà vua mới chính thức xuất gia, khoác áo cà sa đi hóa độ khắp nơi. Sau đó Ngài về núi Yên Tử thành lập Thiền phái Trúc Lâm, một Phật giáo nhất tông mang bản sắc văn hóa Đại Việt, lấy hiệu là Hương Vân Đại đầu đà, Trúc Lâm Đại đầu đà, được tôn là Sơ Tổ (Đệ nhất Tổ) của Thiền phái và được người đời tôn vinh là Điều Ngự Giác Hoàng, là Biến Chiếu Tôn Phật. Năm 1301, Ngài sang tận kinh đô Trà Kiệu của vương quốc Chiêm Thành vừa bang giao, vừa thuyết pháp giảng đạo. Trong chuyến vân du này, nhờ tài ngoại giao khéo léo mà Ngài đã mở rộng lãnh thổ đất nước về phương Nam đến phía bắc đèo Hải Vân, qua việc vua Chiêm là Chế Mân đã tự nguyện dâng đất Châu Ô, Châu Lý (tức phần đất tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên hiện nay) để làm sính lễ cưới Huyền Trân công chúa vào năm 1306.

Đồng thời, Ngài còn là một nhà văn hoá, một nhà văn nhà thơ lớn đời Trần. Thư tịch cổ như các sách Thánh đăng ngữ lục (khuyết danh), Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn), Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn), Tam Tổ thực lục (khuyết danh), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú) chép rằng Trần Nhân Tông đã để lại cho kho tàng văn hóa – tư tưởng, văn học khá nhiều tác phẩm với các thể loại như: Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Trần Nhân Tông thi tập. Khi còn ở ngôi, nhà vua còn ban chiếu sai các văn thần biên soạn bộ Trung hưng thực lục.

2. Thơ văn của Trần Nhân Tông

Rất tiếc là những tác phẩm kể trên đã mất gần hết, chỉ còn lại 31 bài thơ, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh, một bài tán, một đoạn ngữ lục, một truyện ký; đặc biệt là một bài phú và một bài ca bằng chữ Nôm: Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (hai tác phẩm Nôm này có in lại trong sách Thiền tông bản hạnh) mà xưa nay các học giả, các nhà nghiên cứu đều khẳng định đây là một vốn quý của dân tộc, là hai trong vài tác phẩm chữ Nôm xưa nhất hiện còn, chúng vừa có giá trị ngôn ngữ, giá trị văn chương lại vừa có giá trị tư tưởng Thiền học với quan niệm Phật tại tâm và chủ trương tùy tục, tùy duyên, ở cõi trần mà vẫn vui với đạo.

2.1. Hai cặp câu thơ ứng tác của Trần Nhân Tông

Hai cặp câu thơ lẻ có thể nói là những câu tuyệt bút, bởi chúng vừa thể hiện tầm cao tư tưởng, bộc lộ niềm lạc quan tin tưởng của tác giả đối với vận mệnh, tiền đồ Tổ quốc, lại vừa thể hiện sự nhanh nhạy, trí thông minh, tài ứng đối, xuất khẩu thành chương của vị hoàng đế thi sĩ:

Cặp câu thứ nhất:

“Cối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Ái do tồn thập vạn binh”.

Dịch:

Việc cũ ở Cối Kê ngươi nên nhớ,
Châu Hoan, châu Ái đang còn hàng chục vạn quân.

Cặp câu thứ hai:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”.

Dịch:

Trên nền xã tắc hai lần ngựa đá phải mệt nhọc,
Nhưng núi sông nghìn đời được đặt vững như âu vàng.

Do là thơ ứng tác vốn không có đầu đề. Khi biên soạn bộ Thơ văn Lý – Trần, các soạn giả mới thêm đầu đề là “Quân tu ký” và “Tức sự”. Ở cặp câu thứ nhất, theo Đại Việt sử ký toàn thư thì tháng chạp năm Giáp Thân (dương lịch khoảng đầu tháng một đến đầu tháng hai năm 1285), Trần Quốc Tuấn hội quân ở Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm (khoảng vùng Đông Triều, Quảng Ninh và vùng Kim Thành, Hưng Yên ngày nay) để chọn những người khỏe mạnh làm quân tiên phong vượt biển vào Nam. Lúc này quân ta khá mạnh, các quân đều tụ họp đông đủ, vua Trần Nhân Tông ứng tác hai câu trên rồi viết ở đuôi thuyền ngự để động viên toàn quân. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể Đại Việt sử ký toàn thư chép nhầm, câu này phải được viết vào lúc quân ta đang rút, quân địch đang tiến mạnh mới đúng. Xin ghi lại đây để tham khảo thêm. Theo tôi, thực tế là lúc này giặc Nguyên Mông rất mạnh, thế như vũ bão, còn ta đang yếu, cần phải rút về các căn cứ để bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội phản công. Và quân đội lúc này chủ yếu là lấy từ các thái ấp của hoàng tộc nhà Trần tập hợp lại để tham gia chiến đấu, chứ triều đình chưa động viên quân đội ở vùng Thanh-Nghệ. Trong câu thơ, nhà vua nhắc lại chuyện cũ ở Cối Kê qua điển cố Việt Vương Câu Tiễn bị Ngô Phù Sai đánh bại, bắt làm con tin, nhưng Câu Tiễn vẫn nhịn nhục, âm thầm mưu tính cơ hội phục quốc. Cuối cùng, hàng ngàn quân của Câu Tiễn dấy lên ở Cối Kê tiêu diệt được Ngô Phù Sai, rửa sạch mối thù. Lấy việc cũ để ngầm nói việc hiện tại của đất nước là chủ ý của nhà vua nhằm động viên toàn quân.

Ở cặp câu thứ hai, theo Đại Việt sử ký toàn thư thì ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý (18-4-1288), sau chiến thắng có tính quyết định trên sông Bạch Đằng, triều đình đã đem các tướng giặc bị ta bắt là Tích Lệ Cơ, Nguyên soái Ô Mã Nhi, Tham chính Sầm Đoạn, Phàn Tiếp, Điền Nguyên soái và nhiều tướng tá khác đưa về phủ Thiên Trường để làm lễ Hiến tiệp (lễ dâng mừng thắng trận) ở Chiêu Lăng (lăng mộ vua Trần Thái Tông). Nhà vua thấy chân voi đá và ngựa đá ở đây đều lấm bùn (vì trước đó, bọn giặc đã tràn qua đây, định đào phá Chiêu Lăng mà chưa kịp làm) nên tức cảnh mà ứng tác hai câu trên với ngầm ý rằng chiến thắng Nguyên Mông lần thứ ba này là có cả âm phù: Tổ tiên đã hiển linh cưỡi voi đá, ngựa đá cùng con cháu xông pha đánh đuổi giặc thù, giữ yên bờ cõi.

2.2. Thơ bang giao của Trần Nhân Tông

Đây là những bài thơ được nhà vua viết ra lúc còn ở ngôi để tặng, tiễn sứ giả nhà Nguyên – Mông, hiện còn lại năm bài: Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính; Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai; Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn; Họa Kiều Nguyên Lãng vận; Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng.

Bài Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính (Tặng bánh ngày xuân cho Trương Hiển Khanh):

Giá chi vũ bãi thí xuân sam,
Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong tục cựu An Nam.

Dịch:

Múa giá chi xong, thử tấm áo ngày xuân,
Huống nữa hôm nay lại gặp tiết mùng ba tháng Ba.
Bánh rau mùa xuân như ngọc hồng bày đầy mâm,
Đó là phong tục của nước An Nam xưa nay.

Ngày cuối xuân trong tiết hàn thực mùng ba tháng Ba1, sau khi thưởng thức các điệu múa cùng với sứ giả phương Bắc, nhà vua tặng bánh trôi, bánh chay, bánh rau cho sứ giả và bảo rằng đây là phong tục riêng của nước Nam. Lời thơ nói ít mà ý nhiều, thể hiện bản lĩnh vị hoàng đế nước Nam, cùng bộc lộ niềm tự hào về bản sắc văn hóa, văn hiến phương Nam trước sứ thần phương Bắc.

Năm 1293, Hốt Tất Liệt nhà Nguyên lấy cớ vua Trần không sang chầu, chuẩn bị đem quân xâm lược nước ta lần thứ tư, nhưng năm sau 1294, Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt – Qubilai) mất, cháu là Thiết Mộc Nhi (Nguyên Thành Tông) lên nối ngôi, liền xuống chiếu bãi binh. Nhà Nguyên cử Lý Trọng Tân và Tiêu Phương Nhai đi sứ sang nước Đại Việt để tuyên bố tờ chiếu đó. Khi đoàn sứ giả ra về, Hoàng đế Trần Nhân Tông viết bài thơ Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai để tiễn sứ giả về lại đất Bắc. Do đây là bài thơ thù tạc, nên lời lẽ mang tính ngoại giao để “đẹp lòng nhau”, nhưng ít nhiều cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc, bên cạnh tình hòa hiếu lân bang:

“Khảm khảm Linh Trì noãn tiễn diên,
Xuân phong vô kế trụ quy tiên.
Bất tri lưỡng điểm thiều tinh phúc,
Kỷ dạ quang mang chiếu Việt thiên”.

Dịch:

Ao Linh Trì thăm thẳm, bữa tiệc tiễn đưa ấm áp,
Gió xuân không cách nào giữ lại ngọn roi rên đường về.
Chẳng hay phúc lành của hai ngôi sao sứ thần,
Còn vằng vặc soi trời Việt được mấy đêm nữa!

Đặc biệt bài thơ Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng (Tiễn sứ phương Bắc là Ma Hợp và Kiều Nguyên Lãng) được viết để tiễn đưa sứ giả khi các vị về lại Trung Hoa, ở hai câu kết, vua Trần Nhân Tông có ý nhắc nhở triều đình phương Bắc đã nói thì hãy nhớ giữ lời, bằng cách nhắc lại lời nói “chuông vạc” trong tờ chiếu năm Trung Thống thứ 2 (1261):

“Đỉnh ngữ nguyện ôn Trung Thống chiếu,
Miễn giao ưu quốc mỗi như đàm”.

Dịch:

Xin hãy ôn lại lời nói “chuông vạc” trong tờ chiếu năm Trung Thống,
Để tránh cho nhau khỏi mối phiền “lo nước” luôn luôn nung đốt trong lòng.

Trung Thống là niên hiệu của vua Hốt Tất Liệt (Qubilai) nhà Nguyên từ năm 1260 đến năm 1263. Bộ Đại Việt sử ký toàn thư cho biết tháng 6 năm Trung Thống thứ 2 (1261) vua nhà Nguyên sai sứ mang thư sang nước ta, đại ý rằng: Các phong tục và quy chế về mũ áo cho các quan lại, Việt Nam được theo lệ cũ của mình mà dùng. Trong tờ thư, vua nhà Nguyên còn răn bảo các viên tướng ở Vân Nam không được đem binh đến lấn cướp vùng biên giới và quấy nhiễu nhân dân ta. Trong bài thơ tặng tiễn trên, đức vua Trần Nhân Tông đã nói lại nội dung tờ chiếu đó cho sứ thần với ý nhắc nhở các vị sứ thần phương Bắc hãy nhớ giữ lời. Đặc biệt, lời thơ còn nhắc đến chuyện “đỉnh ngữ” (lời nói ghi trên cái vạc lớn), mà theo truyền thuyết thời cổ đại Trung Hoa, vua Vũ nhà Hạ đã lấy kim loại chín châu đúc thành chín cái vạc lớn. Về sau, đỉnh trở thành vật biểu tượng cho văn hóa của quốc gia phong kiến. Lời khắc trên đỉnh vạc là lời hệ trọng của quốc gia, đáng được tôn trọng và cần phải tuân theo.

Điều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là, về mặt tư tưởng và văn hóa, đỉnh vạc của Việt Nam có khác với đỉnh vạc của Trung Quốc. Chính người Trung Quốc từ xa xưa có nói: “Chu chi đỉnh, Thần khí dã; Việt chi đỉnh, Phật khí dã. Ô! Thần dị biến, Phật thường lạc” (Đỉnh vạc nhà Chu là đồ của Thần; đỉnh vạc của Việt là đồ của Phật. Than ôi! Thần dễ đổi thay, Phật thường vui vẻ). Cho nên, trong câu thơ trên, bên cạnh nhắc khéo các sứ giả phương Bắc hãy nhớ giữ lời giao ước, nhà vua nước Đại Việt còn ngầm ý tự hào về văn hóa văn hiến của dân tộc ta, mà đỉnh vạc Việt Nam là biểu tượng, là một trong “An Nam tứ đại khí” của thời Lý – Trần mà sử sách Trung Hoa đã ghi chép và tán dương, đó là: Tháp Báo Thiên ở Thăng Long; Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm ở Yên Tử, Quảng Ninh; Chuông Quy điền ở Thăng Long; Đỉnh vạc chùa Phổ Minh ở Nam Định.

(Còn tiếp)

PGS.TS. Nguyễn Công Lý (ĐSHĐ-015)


  1. Trong Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1988, tr. 458, tại chú thích số 4, các soạn giả chú “Mùng ba tháng Ba là tiết Thanh minh, trong ngày đó nhân dân ta thường đi tảo mộ và ăn tết bằng các loại bánh, phổ biến nhất là bánh trôi, bánh chay”. Theo thiển ý, tôi cho rằng chú thích trên là nhầm lẫn. Tiết Thanh minh nhằm ngày 18 tháng Ba âm lịch. Còn ngày mùng ba tháng Ba là tiết Hàn thực, ở nước ta mới có tục ăn bánh trôi, bánh chay.
SỰ KIỆN NỔI BẬT
VIDEO SỰ KIỆN
Video thumbnail
Từ nguồn cội Linh Phong đến lễ dâng hương tưởng niệm tại chùa Phước Huệ
04:54
Video thumbnail
PBNG TW - PBNG TP.HCM CHÚC TẾT CHƯ TÔN GIÁO PHẨM VÀ CÁC CƠ QUAN BỘ NGÀNH
09:25
Video thumbnail
TPHCM: Ấm Lòng Siêu Thị 0 Đồng
02:51
Video thumbnail
CHÙA LAM VIÊN TỔ CHỨC PHIÊN CHỢ TỪ TÂM CHỦ ĐỀ "XUÂN YÊU THƯƠNG"
03:10
Video thumbnail
TỔNG KẾT CÔNG TÁC PHẬT SỰ CỦA PBNG TP.HCM NĂM 2025
07:03
Video thumbnail
PBNG TW & TP.HCM THĂM VÀ CÚNG DƯỜNG 7 TRƯỜNG HẠ
09:44
Video thumbnail
CHÙA PHẬT HỌC TỔ CHỨC ĐẠI LỄ VU LAN: TRI ÂN, BÁO HIẾU VÀ PHỤNG SỰ THIỆN NGUYỆN
02:32
Video thumbnail
LỄ TRI ÂN QUÝ SƯ BÀ
11:16
Video thumbnail
CHÙA SẮC TỨ TAM BẢO TRANG NGHIÊM TỔ CHỨC LỄ HÚY KỴ LẦN THỨ 5 CỐ NI TRƯỞNG THƯỢNG NHƯ HẠ HẢI
04:35
Video thumbnail
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ I NHIỆM KỲ 2025 - 2030
04:02
Video thumbnail
KHÓA BỒI DƯỠNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) và CHUYỂN ĐỔI SỐ
03:50
Video thumbnail
NI GIỚI VIỆT - ĐÀI: ĐẠO TÌNH VƯỢT BIÊN CƯƠNG
07:54
Video thumbnail
PHÁP VÕ - DÁNG NI LƯU TRÊN LỐI "KHẤT THỰC CỔ PHẬT"
13:06
Video thumbnail
PBNG TW VÀ HÀNH TRÌNH CÚNG HẠ TÂY NGUYÊN 2025
06:11
Video thumbnail
PBNG TW VÀ HÀNH TRÌNH CÚNG HẠ TÂY NGUYÊN 2025
06:10
Video thumbnail
Hội thảo khoa học “Đóng góp của nữ giới Việt Nam với giao lưu và phát triển Phật giáo Châu Á”
17:32
Video thumbnail
Khóa Tu Trở Về Nhà - Hướng về Vesak 2025 Thiêng Liêng - Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam 21-23/03/2025
12:53
Video thumbnail
Lễ Tưởng Niệm Thánh Tổ Ni và chư Tôn Đức Ni tiền bối hữu công - Ni giới tỉnh Khánh Hòa kính tri ân
14:08
Video thumbnail
"Thấu Hiểu & Yêu Thương Qua Những Câu Chuyện Jātaka - Phóng Sự Đặc Biệt - Đặc San Hoa Đàm"
05:04
Video thumbnail
Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Phật Sự Của PBNG TP. Hồ Chí Minh Năm 2024
06:50
Video thumbnail
Tổng kết công tác Phật sự của PBNG TP.HCM năm 2024 - PL.2568
17:11
Video thumbnail
PBNG TW thăm trường Hạ 5 tỉnh Tây Nguyên - PL.2568 - DL.2024
16:46
Video thumbnail
Ni sinh trường Cao Trung Phật học Tiền Giang tụng kinh Pháp Hoa Kính mừng Phật đản - 11/5/2024
03:34
Video thumbnail
HỌP MẶT - MÓN QUÀ CAO QUÝ KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN
09:32
Video thumbnail
THIỀN HÀNH SAU KHI THỌ THỰC
02:18
Video thumbnail
Ni giới Phật giáo TP.HCM kính mừng Đại lễ Phật đản PL.2568 - DL.2024
09:45
Video thumbnail
Lễ Húy Kỵ lần thứ 25 Sư trưởng thượng NHƯ hạ THANH tại Tổ đình Huê Lâm - Q11, TP.HCM
33:24
Video thumbnail
PBNGTW: Tiểu ban Thông tin Truyền thông | ĐẶC SAN HOA ĐÀM
03:38
Video thumbnail
PBNGTW: Tổng kết công tác Phật sự năm 2023 | ĐẶC SAN HOA ĐÀM
15:51
Video thumbnail
Hội đồng Thập Sư 3 đàn phát thưởng cho các Giới tử - Đại giới đàn Bửu Huệ 2023
03:44
Video thumbnail
Tuần Chiếu tại Giới Đàn Ni Chùa Thanh Tâm
03:02
Video thumbnail
Đại Giới đàn Bửu Huệ tại Giới trường Ni - Chùa Thanh Tâm - 2023
09:53
Video thumbnail
Lễ Huý Kỵ lần thứ 3 cố NT. TN. thượng Như hạ Hải - Chùa Sắc Tứ Tam Bảo, Hà Tiên - 26/9/2023
07:38
Video thumbnail
Lễ Khai đàn Dược sư Thất Châu - Chùa Pháp Hải
17:47
Video thumbnail
Lễ Húy Nhật lần thứ 17 cố Ni trưởng Thượng Như Hạ Bổn - Viện chủ TĐ Kim Sơn (27/7/2006 - 23/7/2023)
45:08
Video thumbnail
Lễ Húy kỵ cố Hòa thượng Thích Nhật Quang tại Hội Sơn Cổ tự
16:37
Video thumbnail
Tọa đàm “Bình đẳng giới trong Nữ giới Phật giáo - 2023” – Chùa Huê Lâm, TP.HCM
19:56
Video thumbnail
Lễ húy nhật lần thứ 6 cố Sư trưởng Thượng Huyền Hạ Huệ - Hải Ấn Ni Tự, TP.HCM
14:11
Video thumbnail
Lễ Vu Lan và Dâng Y tại chùa Vạn Phước - Bình Tân - TP.HCM
11:04
Video thumbnail
Đại lễ Vu lan báo hiếu tại chùa Pháp Võ - Nhà Bè - TP.HCM
12:37
Video thumbnail
“Rửa Chân Tri Ân Song Thân” - Chùa A Di Đà - Củ Chi - Tp.HCM
19:13
Video thumbnail
PBNG TW thăm, sách tấn Chư hành giả an cư tại các Hạ trường tỉnh miền Đông, 28/7/2023 (11/6/Quý Mão)
20:02
Video thumbnail
PBNG TW hoàn tất chuyến thăm và cúng dường Hạ trường tại Tây Nguyên 2023
18:50
Video thumbnail
PBNG TW thăm 4 tỉnh: Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum
08:16
Video thumbnail
Kính mừng Đại lễ Phật đản - PL.2567 - DL.2023 - BTS Giáo hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Tiền Giang
08:05
Video thumbnail
Đại lễ Tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái Đạo & Chư Tôn Đức Tiền Bối Hữu Công PGVN | ĐẶC SAN HOA ĐÀM
10:47
Video thumbnail
Đại lễ Kiều Đàm Di tại Bình Phước 2023: Triển lãm - Dâng hương - Tọa đàm - Thắp nến tưởng niệm
34:37
Video thumbnail
Đại lễ Kiều Đàm Di tại Bình Phước - 22 & 23/04/2023: Công tác chuẩn bị
04:59
Video thumbnail
Lễ Vinh danh cá nhân xuất sắc trong lãnh đạo Phật giáo tỉnh Tiền Giang năm 2023
06:55
CÁC BÀI KHÁC
XEM THÊM