Việc giữ gìn và thực thi nghiêm túc luật lệ chung là nền tảng thiết yếu để hình thành nên những giá trị tốt đẹp, mang lại lợi ích thiết thực cho từng cá nhân và hướng đến xây dựng tập thể phát triển vững mạnh, tốt đẹp. Cũng như vậy, Giới Luật chính là mạng mạch cốt tủy của Phật giáo. Đức Phật chế định ra Giới Luật để làm nền tảng pháp lý, giúp răn đe những Tỳ-kheo phạm lỗi, và là “hảng rào phòng hộ” đối với người chưa phạm lỗi, giúp người hành trì không bị xâm hại bởi cái ác, bất thiện pháp, đồng thời là nền tảng đưa đến định và tuệ giải thoát. Giới Luật được xem như nền móng và cột trụ giúp giữ vững ngôi nhà Chính pháp. Do vậy, đệ tử Phật, dù tại gia hay xuất gia, luôn xem việc tuân thủ, giữ gìn Giới Luật là điều thiết yếu của tu học, vì lợi ích của tự thân và sự phát triển của Phật pháp mai sau.
Nguyên tắc là như vậy. Nhưng trong thực tế phát triển của xã hội hiện đại, việc hành trì Giới Luật của đệ tử Phật nói chung, chư Ni nói riêng, có đạt được như vậy? Bài viết bàn về việc hành trì Giới Luật ở một bộ phận Ni trẻ ngày nay.
1. Thực trạng hành trì Giới Luật của các Ni trẻ
Kinh tế – xã hội phát triển; các Ni trẻ thay đổi nhiều trong lối sống, cách ứng xử và xa dần phương thức hành trì truyền thống. Họ được thừa hưởng những thành quả của đời sống hiện đại và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đồng thời cũng được kế thừa một gia tài Phật giáo đồ sộ, vững mạnh như hệ thống chùa chiền, tự viện, những công trình nghiên cứu và dịch thuật của các bậc Tôn túc đi trước. Đó vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là rào cản trong việc tu tập của các Ni trẻ. Bởi vì, khi tài vật hưng thịnh thì lậu hoặc dễ phát sinh; các dục cũng giống như chút mật ngọt trên lưỡi dao, sinh tâm ham muốn có thể gây tổn thương cho mình và cho người. Đức Phật thường dạy chúng đệ tử nên “muốn ít”, “biết đủ” và luôn hài lòng với những gì mình có. Bởi vì: “Cách sống thiểu dục, tri túc không có nghĩa là sống hèn hạ, an phận, thiếu hiểu biết, thiếu nỗ lực vươn đến sự phát triển, trái lại, đó là cách sống sáng suốt và cao thượng, hạn chế lòng vị kỷ, sống hài hòa với thiên nhiên, không làm tổn hại môi trường, vì nhận biết được những gì nên khai thác và khai thác đến mức độ nào, những gì cần bảo vệ để cho con em thế hệ kế tiếp của chúng ta khai thác”1. Đây cũng là cách rèn luyện nội tâm trở nên mạnh mẽ để chống lại chính sự tham lam, ích kỷ của tự thân, đồng thời là cách phát triển lòng từ bi, sự biết ơn đối với những người xung quanh.
Một bộ phận Ni trẻ ngày nay có tâm lý sống phụ thuộc, ích kỷ, ỷ lại, đi đến những nơi không nên đến, làm những việc thế tục mà một tu sĩ Phật giáo lẽ ra không nên tham gia, vô tình trở thành cái cớ để ngoại đạo chống phá đạo Phật. Nguyên nhân một phần do các Ni trẻ được sinh ra, nuôi dưỡng, đào tạo trong môi trường hội nhập kinh tế, văn hóa và xã hội, nên họ có suy nghĩ phóng khoáng và mở rộng hơn so với các thế hệ trước. Vì lẽ đó, khi được đưa vào khuôn phép của Giới Luật, họ thấy khó hòa nhập, phát sinh cảm giác ngột ngạt và muốn thoát ra khỏi”hàng rào” ấy.
Hơn nữa, các Ni trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức Phật học, chưa có nhiều trải nghiệm, hành trì và chưa có sự chứng ngộ, nên khi có điều kiện tiếp xúc với thế giới bên ngoài bằng nhiều phương tiện khác nhau, họ dễ mất phương hướng, dễ bị lôi kéo ra ngoài vùng an toàn của Giới Luật. Không chỉ bị cuốn ngược trở lại với vòng xoáy thế tục, một số khác còn”thế tục hóa” nếp sống thiền môn, mặc dù vẫn duy trì hình thức của một tu sĩ Phật giáo. Vấn đề mấu chốt ở đây chính là việc các Ni trẻ chưa hiểu rõ tầm quan trọng của Giới Luật đối với đời tu học của một tu sĩ. Một số Ni trẻ cũng chưa coi trọng việc học và thực hành Giới Luật nghiêm túc. Vì vậy, khi gặp ngoại duyên, họ dễ dàng đánh mất chính kiến, lãng quên những giới điều đã học.
Thực tế, ngày càng có nhiều Ni trẻ vi phạm Giới Luật, cư xử và hành động giống thế tục. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy tin bài liên quan đến hiện tượng này đăng tải trên các mặt báo hay các trang mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là một bộ phận nhỏ. Phần lớn chư Ni trẻ vẫn có chính kiến, hiểu được giá trị của Giới Luật và cố gắng phát huy, nhờ vậy mà đạt thành quả trong tu học.
2. Những ngộ nhận về Giới Luật ở Ni trẻ
Xã hội càng phát triển thì đời sống vật chất càng cải thiện, những cám dỗ của dục lạc thế gian cũng tăng theo cấp số nhân. Các Ni trẻ dù muốn hay không vẫn phải hòa vào nhịp sống thời đại, bị quay cuồng trong vòng xoáy của đạo và đời. Trong bối cảnh ấy, một số Ni trẻ cho rằng Giới Luật do Phật chế định không còn phù hợp và cần phải thay đổi. Ví như vài năm gần đây, một số Ni ở Đài Loan xin bãi bỏ Bát Kỉnh Pháp. Họ cho rằng đó là sản phẩm của tư tưởng trọng nam khinh nữ, là một sự chèn ép Ni giới, trong khi xã hội hiện đại tôn trọng sự bình quyền. Bát Kỉnh Pháp là những giới điều làm cho Ni giới bị tụt hậu, không thể đứng ngang hàng với chư Tăng. Thực chất, những suy nghĩ “tân tiến” đó, một phần do ảnh hưởng của văn hóa, xã hội; nhưng lý do chính là họ quá khắt khe và có ác cảm với hai từ “Giới – Luật”, chưa có cái nhìn thấu đáo về giới điều. Thực chất, giới điều chỉ là phương tiện thiện xảo giúp bảo vệ người tu sĩ, đồng thời có chức năng làm bàn đạp cho hành giả bước đến gần hơn con đường giải thoát, giác ngộ.
Các Ni trẻ ngày nay đang”sống trong lòng thế tục”, dù là những người phát tâm xuất gia, tu theo Phật đạo và tự chấp nhận nép mình trong nếp sống thiền môn. Cuộc sống hiện đại có quá nhiều tác động khiến cho các Ni trẻ có sự so sánh giữa Tăng và tục. Mặt khác, như Đức Phật từng nói, các dục lạc thường được tìm thấy nơi tuổi trẻ2. Ni trẻ là những người mới bước chân vào con đường tìm cầu chân lý nên còn non kém trong việc tu học, chưa có đủ nhận thức về giáo lý và cũng chưa có sự hành trì Giới Luật nghiêm mật khi đối diện với sự hấp dẫn của những dục lạc bên ngoài.
3. Vai trò của Giới Luật
3.1. Giới là cội gốc của mọi điều lành
Giới Luật là nền tảng đạo đức, là nơi thành tựu mọi thiện pháp. Người đệ tử Phật muốn đạt đến mục đích tối hậu, trước tiên phải xác định được mục tiêu chính của việc tu tập. Dù hành giả thực hành pháp môn nào thì cũng không nằm ngoài mục tiêu tránh xa những điều bất thiện, cố gắng làm hạnh thiện lành, giữ cho tâm ý luôn trong sạch, thanh tịnh, dứt trừ tham, sân, si, phiền não trong tâm và đoạn tận các dục lạc thế gian. Đức Phật ví các dục như đầu rắn, nếu muốn bắt rắn thì phải nắm lấy cái đầu, nếu nắm sai (vào thân hoặc đuôi rắn) thì chẳng những không bắt được rắn, phí sức uổng công, vui ít khổ nhiều, phiền não nhiều mà còn gây nguy hiểm cho bản thân3.
Cũng như vậy, để đạt được an lạc và trí tuệ, hành giả cần phải lấy Giới Luật làm nền tảng, xem đó như chìa khóa để mở cánh cửa giải thoát, là bậc thang thứ nhất để tiến bước trên lộ trình”Tam vô lậu học”. Vì Giới như ngọn đèn sáng, có khả năng xua tan bóng tối trong đêm dài vô minh. Giới như gương báu soi khắp cả pháp giới mà ở đó có những nơi dù cho ánh sáng của mặt trời, mặt trăng cũng không thể soi tới. Giới như viên ma-ni bảo châu, loại ngọc sáng và quý giá nhất trên đời được ban đến những người nghèo cùng khổ4. Giới cũng được xem như mảnh đất tốt tươi, màu mỡ mà ở đó hạt giống nào có thể mang lại lợi ích cho quần sinh đều có thể sinh trưởng tốt tươi, mang lại hương thơm, quả ngọt cho đời.
Chính nơi ấy, người trì Giới cũng đã tự đạt được 5 điều lợi ích lớn, đó là: tiền của dồi dào do sống không phóng dật; tiếng tốt đồn xa; đi vào hội chúng không bối rối, sợ hãi; khi mạng chung tâm không loạn; khi mạng chung được sinh vào cõi an lành5.
Người xuất gia phải xem Giới Luật như là mạng sống, dù phạm lỗi nhỏ cũng làm tổn giảm thiện căn, huống chi những lỗi thuộc vào giới cốt lõi, những trọng giới không thể sửa đổi và không thể sám hối được như Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa và Bất định giới. Nếu Tỳ-kheo phạm một trong những giới trên thì chính là xa rời con đường thiện hạnh, tự đạp đổ ngôi nhà thiện pháp, giống như cây dừa, cây cau chỉ có một ngọn duy nhất, nếu bị chặt đứt đầu thì không thể tiếp tục sống và không thể sống lại được, lại ví như người bị què chân không thể đi được, cũng như xe vào đường hẻm lo mất chốt, gãy trục vậy6.
3.2. Tăng trưởng Bồ-đề tâm
“Bồ-đề tâm” chính là tâm thiết tha, khát khao sự giác ngộ giải thoát tối thượng. Người có tâm Bồ-đề kiên cố là người có năng lượng mạnh mẽ, một lòng mong muốn vượt thoát khỏi sự mê mờ của màn sương vô minh. Năng lượng ấy sinh khởi từ việc tự mình chiêm nghiệm, thực hành và kết quả đạt được chính là sự an lạc từng ngày trong quá trình tu tập.
Tuy nhiên, các Ni trẻ là những người sơ phát tâm, vẫn còn là những”cây non” chưa đủ cành lá và gốc rễ để có thể chống lại những tác động của ngoại cảnh, cũng chưa trang bị đủ năng lực và sự kiên cố của tâm thức để chống đỡ lại những hấp dẫn của lợi dưỡng bên ngoái, chưa thể đương đầu với những chúng ma phiền não dẫn đến việc để thoái thất Bồ-đề tâm khi gặp biến cố. Do vậy, Tỳ-kheo-ni trẻ cần phải nương vào Giới Luật, lấy đó làm vũ khí sắc bén để tự bảo vệ mình, không bị các dục và triền cái khuyến dụ. Giới Luật cũng giống như một chiếc neo, khi con thuyền được thả neo, có một điểm trụ thì dù bị sóng xô hay gió đẩy theo hướng nào, nó vẫn cố định và xoay vòng tại một điểm. Cho nên:
Bậc trí an trú Giới
Tu tập Tâm và Tuệ
Nhiệt tâm và thận trọng
Tỳ khiêu ấy thoát triền7.
Người giữ Giới trong sạch, không có sự hủy phạm, sai sót, sẽ sinh ra nhiều công đức lành. Như trong Kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới Luật chính là mẹ sinh ra các công đức”, và từ đó sẽ càng sinh khởi niềm tin nơi Giáo pháp bằng chính sự chứng ngộ của mình.
3.3. Kiểm thúc oai nghi bằng việc trì Giới
Người xuất gia có hai việc lớn cần phải luôn tự mình kiểm thúc, đó chính là “thân và tâm”, trong đó”thân” là những hình thức, tướng trạng, những biểu hiện có thể thấy được bên ngoài.”Tu thân” chính là tự mình ý thức trong việc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, ngủ, nghỉ sao cho thật nghiêm trang, tác phong, lời nói phải thật nhu nhuyễn, nhẹ nhàng. Tuy nhiên, đây không phải là một việc đơn giản. Dù người xuất gia đã chọn lối sống rời xa gia đình, sống không gia đình, nhưng các Ni trẻ vẫn phải sinh hoạt và va chạm với đời sống thế tục, vì nhiệm vụ của các Ni trẻ là mang Chính pháp trực tiếp truyền đạt, lan tỏa đến nhân gian. Tu sĩ là những hình mẫu lý tưởng của đạo đức, phép tắc, lễ nghi, là bậc thầy mô phạm cho tín đồ Phật tử noi theo và phát khởi tín tâm vào Giáo pháp. Muốn được như vậy, các Ni trẻ cần phải nương theo Giới Luật, “sống với đời sống của Giới Luật”, không xa rời Giới Luật, dùng Giới Luật như món trang sức đẹp đẽ, tự trang nghiêm bản thân mình.
4. Phương hướng phát huy vai trò của Giới Luật trong xã hội hiện đại
Đức Phật đã xác quyết với ngài Mục Kiền Liên rằng: Niết-bàn là có thật và có con đường đưa hành giả đến được Niết-bàn. Đức Phật chỉ là người chỉ đường. Ngài đã dùng các phương tiện để giáo huấn, tuy nhiên, có thể đạt được cứu cánh, Niết-bàn hay không, còn tùy thuộc vào sự hành trì của từng người. Đức Thế Tôn ghi nhận những sở hành ấy chính là cứu cánh đưa đến Lậu tận8.
Theo như lời dạy trên của Đức Phật, là người tiếp bước sự nghiệp của chư Phật, chư Tổ, các Ni trẻ cần phải có nhiều nỗ lực và quyết tâm hơn trong việc tu học. Cần phải xác quyết rằng dù thời đại có khác nhau, dù xã hội đã thay đổi, nhưng Giới Luật không bao giờ”lỗi thời”. Đây luôn là nền tảng hướng hành giả đến lối sống đạo đức, là ngọn đuốc soi sáng vượt không gian và thời gian cho những ai đang trên con đường hoàn thiện nhân cách và tiến hóa tâm linh.
Hiểu được tầm quan trọng của Giới Luật, các Ni trẻ nên tự lập trình cho mình con đường hành trì phù hợp với bản thân, thường xuyên đọc tụng Giới, kèm theo đó là sự tư duy và áp dụng ngay trong đời sống thực tiễn,”Hãy sống đầy đủ Giới, đầy đủ Giới bổn, được chế ngự với sự chế ngự của Giới bổn. Hãy sống đầy đủ Uy nghi chính hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các Học pháp”9. Nên thực hành các Học giới ngay sau khi được học, đừng xem thường các lỗi nhỏ vì đó có thể trở thành tập tính không tốt cho việc tu tập. Và rằng:”không có gì gọi là lỗi lầm nhỏ mọn cả, ngay đến những lỗi nhỏ nhất cũng phải được người trí điều phục”10.
Siêng năng học tập và hành trì lời Phật dạy với sự tư duy, Thiền định và Trí tuệ, không bị dẫn dụ và chạy theo những tài vật thế gian. Về điều này, Đức Phật đã khuyến dạy các đệ tử rằng: “Này các Tỷ khiêu, hãy là người thừa tự Pháp của ta, đừng là người thừa tự Tài vật”11. Tăng sĩ Phật giáo là những người đã phát nguyện sống đời Phạm hạnh, rời xa gia đình, sống không gia đình để được thành tựu tâm linh nên cần phải hiểu sự tạm bợ của các sắc tướng bên ngoài. Đệ tử Phật chân chính là người có thể “thấy Pháp” của Phật. Những ai thấy được Pháp Tứ đế và Duyên khởi thì người ấy đã thấy Đức Phật. Ngược lại, nếu không thấy được Pháp Duyên khởi thì”chúng sinh hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ cây và lau sậy, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sinh tử”12.
Kết luận
Tóm lại, Giới Luật giữ vai trò then chốt trong quá trình tu học của tu sĩ Phật giáo. Các Ni trẻ là những người vẫn còn vọng động và quay cuồng theo tự ngã, thân và tâm dễ bị nhiễm ô theo sự cám dỗ của dục lạc. Chính vì vậy, Giới Luật giữ vai trò như sợi dây neo giúp con thuyền tâm thức có nơi bám trụ, đồng thời Giới Luật còn giúp mang lại sự bình ổn và bền vững, không bị dao động trước những thay đổi, biến cố trong cuộc đời. Ví như người không có vết thương nào, lại cẩn thận và khéo phòng hộ thì chất độc không cách nào xâm nhập và làm hại cơ thể được. Người trì Giới cũng như vậy, nhờ nương theo Giới Luật mà sinh ra các môn Thiền định và Trí tuệ diệt khổ, các Pháp lành cũng được sinh ra từ việc giữ Giới13.
NS. TS. Thích Diệu Tâm
- HT. Thích Trí Quảng (2008), Phật giáo nhập thế và phát triển, quyển 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
- HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1996), Kinh Tăng Chi Bộ II, Chương V, phẩm Sức mạnh hữu học, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.311.
- HT. Thích Minh Châu (Dịch, 2012), Kinh Trung Bộ 1, Kinh số 22: Kinh Ví Dụ Con Rắn, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
- HT. Thích Trí Tịnh (Dịch, 2002), Kinh Phạm Võng, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
- HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1991), Kinh Trường Bộ 1, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
- HT. Thích Chơn Thiện (Dịch, 1998), Tỳ-kheo-ni Giới Bổn, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh
- HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1991), Kinh Tương Ưng 1, Thiên Có Kệ, Chương I – Tương Ưng Chư Thiên III, phẩm Kiếm (S.1,13), Viện Nghiên cứu Phật học Viện Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thích Nguyên Hùng (Biên soạn, 2014), Tổng Quan Bốn Bộ A Hàm – Toát yếu kinh Trung A Hàm, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
- HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1996), Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương IV, Bốn Pháp II, Phẩm Hành, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
- HT. Thích Minh Châu (Dịch, 2015), Kinh Tiểu Bộ, Tập 5, Chương Mười một bài kệ, Hà Nội
- HT. Thích Minh Châu (Dịch, 2012), Kinh Trung Bộ 1 – Kinh Thừa Tự Pháp, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
- HT Thích Minh Châu (Dịch, 1991), Kinh Trường Bộ 1, Kinh số 15 – Kinh Đại Duyên, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh
Đoàn Trung Còn, Nguyễn Minh Tiến (Dịch, 2010), Kinh Di Giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1991), Kinh Trường Bộ 1, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1991), Kinh Tương Ưng 1, Thiên Có Kệ, Chương I – Tương Ưng Chư Thiên III, Phẩm Kiếm (S.1,13), Viện Nghiên cứu Phật học Viện Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1996), Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương IV, Bốn Pháp II, Phẩm Hành, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. HT. Thích Minh Châu (Dịch, 1996), Kinh Tăng Chi Bộ II, Chương V – Phẩm Sức Mạnh Hữu Học, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. HT. Thích Minh Châu (Dịch, 2012), Kinh Trung Bộ 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
6. HT. Thích Minh Châu (Dịch, 2015), Kinh Tiểu Bộ, Tập 5, Chương Mười một bài kệ, Hà Nội.
7. Đoàn Trung Còn, Nguyễn Minh Tiến (Dịch, 2010), Kinh Di Giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
8. Thích Nguyên Hùng (Biên soạn, 2014), Tổng quan bốn bộ A Hàm – Toát yếu kinh Trung A Hàm, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
9. HT. Thích Trí Quảng (2008), Phật giáo nhập thế và phát triển, Quyển 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
10. HT. Thích Chơn Thiện (Dịch, 1998), Tỳ-kheo-ni Giới Bổn, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
11. HT. Thích Trí Tịnh (Dịch, 2002), Kinh Phạm Võng, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.


















































