Tuổi trẻ về quê – truyền bá chánh pháp bằng ca múa nhạc (青年下鄉 – 開創歌廳弘法)
Hơn nữa, chỉ giảng bằng lời nói thôi thì chưa đủ thu hút lắm, nếu có hình ảnh minh họa thì càng tuyệt vời hơn, cho nên tôi cũng đã mua rất nhiều máy chiếu slide (幻燈片 tiếng Đài Loan) từ Nhật Bản về, xuyên qua hình ảnh của máy chiếu, giống như xem phim, rất hấp dẫn ánh mắt của mọi người. Tất nhiên, nghe hát hay hơn nghe nói, về sau Phật giáo ở Nghi Lan đã dần dần phát triển, thì các bạn trẻ cũng dần dần đến tụ tập. Lúc bấy giờ tôi liền thành lập đội Hoằng Pháp và đội Thi ca ngâm vịnh, để dẫn dắt giới trẻ truyền bá Phật pháp ở nông thôn thông qua ca hát. Đây là khởi đầu cho một phương pháp mới, để truyền bá Phật pháp thông qua các bài diễn giảng vào thời điểm đó.
Ban đầu, tại Đài Loan mặc dù có chùa miếu, nhưng hoàn toàn không có Phật pháp. Tên của Phật là gì? Nghĩa của pháp là gì? Không có ai biết, chỉ có tôn giáo tín ngưỡng dân gian. Dân chúng phần đông thường tìm đến thần linh, cầu xin thần thánh phò hộ, che chở. Tín ngưỡng của Thần Đạo Giáo1 rất phổ biến. Trong lòng tôi cảm thấy bất bình vì sự thờ ơ của họ đối với Phật pháp, tôi đã từng viết truyện cổ tích nhi đồng, để châm biếm sự hưng thịnh của Thần đạo giáo Đài Loan trong khi thiếu vắng giáo lý Phật pháp. Tiêu đề được gọi là “Tinh Quân Tiên Nữ Hạ Phàm Trần” và “Tôn Giáo Đồng Minh Đại hội”. Nhưng sau đó tôi luôn cảm thấy đối với tôn giáo dân gian, mình không nên dùng tâm lý của một đệ tử Phật giáo để khinh mạn họ như vậy. Cho nên, sau này tôi nói với Pháp sư Chữ Vân (煮雲法師 1919-1986), người bạn cũ của tôi là đừng đưa ra những bình luận phê phán Ma Tổ2. Nếu không có tín ngưỡng Ma Tổ, thì vùng này không có Pháp sư, cũng không có Phật pháp, tất nhiên hầu hết trong số họ sẽ quay về với Thiên Chúa giáo và Cơ đốc giáo. May mắn thay, Ma Tổ vì có thiện căn, thiện duyên của Phật giáo, nên bảo vệ Phật giáo chúng ta trụ trên mảnh đất Đài Loan này.
Bần tăng giảng kinh thuyết pháp ở Nghi Lan, hàng tuần vào hai ngày thứ tư và thứ bảy không gián đoạn, hẳn là đã hơn mười năm, nhưng ở Đài Bắc không ai biết cả. Thời điểm đó, tin tức của Đài Loan chính là bảo thủ như vậy. Còn nhớ khi tôi đã ngoài 30 tuổi mới đến Đài Bắc để thuyết pháp, cũng giảng được vài năm, nhưng không có ai biết về điều đó bên ngoài Đài Bắc.
Ban đầu, tôi giảng “Phật giáo và đời sống” tại Tinh xá Chí Liên ở Đài Bắc, xem như “mười năm mài kiếm” của tôi ở Nghi Lan, đến Đài Bắc để chia sẻ những hiểu biết của mình. Mặc dù thính chúng rất nhiệt tình, nhưng đó là một tòa cao ốc dành cho các tín đồ tại gia, về cơ bản có thể chứa ba hoặc bốn trăm người, mỗi ngày họ đến nghe rất đông đúc, cũng chỉ như thế mà thôi.
Về sau, có người đề nghị tôi đến Bảo tàng Nghệ thuật Quốc Lập diễn giảng. Đó là một bảo tàng nghệ thuật nằm trong Vườn Bách thảo Đài Bắc, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nhà lịch sử, nhà địa lý học Trương Kỳ Quân (張其昀 1900-1985) xây dựng, nó có thể chứa khoảng một nghìn người. Tôi đã từng giảng pháp nơi đó, nhưng nội dung chủ đề là gì tôi không còn nhớ rõ.
Tuy nhiên, sau khi tích lũy kinh nghiệm thuyết giảng tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật này, có người kiến nghị tôi có thể đến Hội trường Quang Phục Trung Sơn Đường diễn giảng, Hội trường này là nơi dùng để hội họp Đại hội Quốc dân, có thể chứa hơn một nghìn người. Thật sự tôi đã đến đó giảng, nhưng bây giờ tôi không nhớ nổi mình đã nói những gì.
Sáng tạo giảng diễn – hàng năm không còn ghế trống (创新讲座 – 年年座无虚席)
Sau khi thuyết giảng tại hai nơi này, cũng vì liên tục nhận được phản hồi tích cực, một số người đề nghị bần tăng có thể tổ chức các buổi thuyết giảng tại Nhà Tưởng niệm Tôn Trung Sơn ở Đài Bắc, vì Hội trường này có thể chứa hơn 3.000 người. Vào thời điểm đó, tôi cũng đang xây dựng tự viện, khai sơn Phật Quang Sơn tại Cao Hùng Nam bộ Đài Loan. Bằng cách này, mỗi năm bần tăng đã thuyết giảng ba ngày tại Nhà Tưởng niệm Tôn Trung Sơn, từ năm 1977 đến năm 2006, tổng cộng 30 năm, và năm nào Hội trường cũng chật kín người. Nhân viên ở đó nói rằng, từ khi xây dựng Nhà Tưởng niệm Quốc Phụ cho đến nay, chưa bao giờ có nhiều người như vậy.
Tại sao có nhiều thính chúng như vậy? Điều chủ yếu mà tôi nghĩ, cái gọi là Phật giáo nhân gian, chính là đem Phật pháp truyền bá rộng rãi trong xã hội, trong gia đình và trong đời sống con người, để ai cũng biết rằng Phật giáo gắn liền với con người. Nghĩa là có thể khiến cho mọi người được nghe và được hiểu. Đây là một nguyên nhân quan trọng.
Nguyên nhân thứ hai là tôi có kinh nghiệm hoằng pháp tại Nghi Lan, nên đã lồng ghép lời ca, tiếng hát, vũ đạo vào các bài giảng của mình. Trước khi thuyết pháp, đầu tiên sẽ có một số tiết mục biểu diễn, một hoạt động rất thịnh hành vào thời điểm đó; Hơn nữa, những người trẻ tuổi ở Nghi Lan, như Pháp sư Từ Dung sau khi xuất gia, đặc biệt có thiên phú về ca hát và vũ đạo. Dưới sự hướng dẫn của cô, đây đúng là một sự kiện mang tính thời đại.
Trong ba mươi năm diễn giảng, thì chủ đề ba mươi năm cũng khác nhau. Tôi nhớ một cách mơ hồ, các bài giảng bao gồm mọi thứ, từ đại nghĩa “Kinh Kim Cương”, giảng đến đại nghĩa “Kinh Duy Ma”; từ tuyển giảng “Kinh A Hàm”, đến yếu nghĩa “Kinh Đại Bảo Tích”; từ con đường làm phong phú Phật giáo, con đường phúc thọ, con đường nhân ngã, giảng đến Pháp môn Thiền tu, Pháp môn Tịnh tu và Pháp môn Luật tu v.v…
Năm 2002, lần đầu tiên bần tăng so sánh đối chiếu với phong cách giảng xướng văn học truyền thống, tức là đem thuyết giảng, kể chuyện, xướng tụng dung hợp với nhau, tiến hành “Tọa đàm xướng tụng Phật giáo”; năm 2006, lần lượt giao lưu đàm phán với Nghiêm Trường Thọ, Hồng y giáo chủ Thiện Quốc Tỉ và Thị trưởng Đài Bắc Mã Anh Cửu v.v…
Trong suốt ba mươi năm này, ngoài những người dẫn chương trình hàng đầu Hồ Tú Khanh và Câu Phong, người phiên dịch Đài ngữ xuất sắc Pháp sư Từ Huệ, biểu diễn ca hát và vũ đạo nổi trội nhất của các thanh niên trẻ tuổi Nghi Lan, còn có hàng thính chúng quan trọng nhất, mặc dù các lối đi đều chật kín người, nhưng không một ai đứng dậy di chuyển..
Bần tăng cũng rất có chừng mực, trong 30 năm thuyết pháp, tôi đang trong quá trình khai kiến Phật Quang Sơn, nhưng tôi chưa bao giờ nhắc đến việc xây dựng; cũng không mượn những buổi tổ chức diễn giảng này để chiêu mộ đệ tử, hoặc mời gọi các giới nhân sĩ, mọi tầng lớp trong xã hội đến chiêm bái Phật Quang Sơn. Tôi có thể tự hào nói rằng, tôi chưa bao giờ dùng danh nghĩa hoằng pháp để thực hiện bất kỳ mục đích hay ý đồ nào khác. Tôi dùng Phật pháp để giảng Phật pháp, nơi đó tôi không tuyên truyền cho Phật Quang Sơn, hoặc tạo thế lực cho Phật Quang Sơn, từ xưa đến nay tôi chưa bao giờ có ý nghĩ này.
Nhìn lại cuộc đời mình, dù có làm bất cứ việc gì đi nữa, bần tăng đều rất thực tế, rạch ròi: cầu là cầu, đường là đường, văn hóa là văn hóa, giáo dục là giáo dục, đức tin là đức tin, tuổi trẻ là tuổi trẻ, và tu hành là tu hành, tôi phân biệt rõ ràng giữa nhân duyên quả báo, không bao giờ nhầm lẫn nhân và quả. Tôi nghĩ, những đồ chúng nghe thuyết giảng trong ba mươi năm qua có thể là một bằng chứng. Ba mươi năm giảng pháp, bần tăng có bao giờ nhắc đến sự nghèo khó của Phật Quang Sơn và cầu xin sự giúp đỡ của mọi người không? Chưa từng có.
Phải nói rằng trong ba mươi năm qua, là thời gian chuyên tâm rèn luyện, học tập, nghiên cứu đối với những việc như, giáo hóa, giảng kinh, hoằng pháp. Bởi vì tôi biết có một tình huống rất phổ biến trong Phật giáo:
Bạn hỏi một ai đó:
– Anh đi đâu vậy?
– Tôi đi nghe giảng kinh!
– Pháp sư nào giảng?
– Ồ, Đại Pháp sư… đó… đó!
– Giảng có hay không?
– Rất xuất sắc!
– Xuất sắc như thế nào?
– Tôi nghe nhưng không hiểu!
Chính vì lý do như vậy, cho nên tôi mới dụng tâm nỗ lực, nghiền ngẫm, tìm tòi tất cả giáo pháp của Đức Phật trở thành ngôn ngữ hiện đại, để mọi người đều có thể nghe được, hiểu được và áp dụng được. Đây cũng là lĩnh vực mà tôi đã nỗ lực hết mình trong suốt cuộc đời.
Vì vậy sau này, Pháp sư Chữ Vân – bạn thân của tôi đã nói điều này một cách công bằng. Thầy nói:
– Khi Thầy nói về Phật pháp, không có một lời nào là kinh văn cổ điển; khi Thầy không nói về Phật pháp, mỗi lời nói của Thầy đều là ý nghĩa trong kinh văn.
Pháp sư Chữ Vân cũng là một nhà truyền giáo giảng đạo, tôi đã xem thầy như một người bạn tri kỷ, suy cho cùng, chúng tôi cũng là bạn học nhiều năm, hai bên đã trở thành tâm đầu ý hợp với nhau.
(còn tiếp)
Đại sư Tinh Vân
Thanh Như dịch {ĐSHĐ-148}
- Thần Đạo Giáo (神道教): gọi tắt là Thần đạo (Shinto), là tôn giáo bản địa của tộc Đại Hòa và tộc Lưu Cầu Nhật Bản, được chia thành Thần đạo Đại Hòa và Thần đạo Lưu Cầu. Thần đạo Đại Hòa (大和神道) ban đầu tập trung vào việc thờ cúng Thiên nhiên, thờ cúng Tổ tiên và thờ cúng Thiên hoàng, thuộc về tín ngưỡng đa thần linh (sùng bái tinh linh); Thần đạo Lưu Cầu (琉球神道) bắt nguồn từ quần đảo Lưu Cầu, lấy tín ngưỡng Long Cung, tín ngưỡng Ngự Nhạc làm chủ. Điều đáng chú ý, Ngự Nhạc là thuật ngữ chung để chỉ các khu vực linh thiêng của Thần đạo Lưu Cầu, nơi các vị thần ngự trị trong thần thoại Lưu Cầu, và là nơi tiếp đón các vị thần, tương tự như cổng Torii (鳥居) của Thần đạo Đại Hòa. Lúc đầu, Thần đạo không có tên gọi chính thức, mãi từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên, khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản thông qua Triều Tiên, và dần dần được mở rộng ở Nhật Bản vào thời điểm đó, để có một từ ngang vai ngang vế với “Phật giáo”, thế là họ sáng tạo ra danh từ “Thần đạo”, để phân biệt “Thần đạo” vốn có của Nhật Bản, cùng với “Phật giáo” được truyền vào từ nước ngoài.
- Ma Tổ (媽祖 Mụ Tổ): Tên là Lâm Mặc, sinh ngày 23 tháng 3 âm lịch thời Tống Kiến Long (Triệu Khuông Dẫn) nguyên niên (960) tại đảo Mi Châu Bồ Điền. Còn gọi là Thiên Phi, Thiên Hậu, Thiên Thượng Thánh Mẫu, Nương Ma… là vị thần được những người đi thuyền, đi biển, du khách, thương nhân và ngư dân tín ngưỡng phụng thờ.


















































